HRƠI BING PÔ MƠYANG DJAI YUA KƠ ĐĂO BƠI CAR VIỆT NAM

TƠLƠI PƠBLANG HRƠI BING PÔ MƠYANG DJAI YUA KƠ ĐAO BƠI CAR VN 1 TƠLƠI PƠBLANG HRƠI BING PÔ MƠYANG DJAI YUA KƠ ĐAO BƠI CAR VN 2 TƠLƠI PƠBLANG HRƠI BING PÔ MƠYANG DJAI YUA KƠ ĐAO BƠI CAR VN 3 TƠLƠI PƠBLANG HRƠI BING PÔ MƠYANG DJAI YUA KƠ ĐAO BƠI CAR VN 4 TƠLƠI PƠBLANG HRƠI BING PÔ MƠYANG DJAI YUA KƠ ĐAO BƠI CAR VN 5

POPU KO BING PÔ MOYANG DJAI NGA GONG KO TOLOI ÐAO BOI CAR VIÊT NAM_32

TRING ĐA|O KONTUM 

THU|N PƠBLIH KHUL ĐA|O PLƠI PLA BRƠI JING TƠLƠI MƠAK KLA|

TƠLƠI MƠAK KLĂ

HRƠI KHUA TAL 33 THU|N ĐA|O  B  (15/11/2015)

 (Lk 9,23-26)

HRƠI {ING PÔ MƠYANG DJAI YUA KƠ ĐA|O {ƠI }AR VN

 23Ha\ng ~u la\i kơ abih bang: “Hlơi kiang tui tlon Kâo, hơngah lui be\ `u pô, glam be\ kơyâo bơrơkal `u pô rim hrơi ha\ng tui Kâo be\!” “24Kơyuadah hlơi kiang pơtlaih tơlơi hơdip `u pô, amra rơngia\ h^, samơ\ hlơi pơrơngia\ tơlơi hơdip `u pô yua kơ Kâo, pô anun amra pơtlaih gơ\”. “25Hơgơt hmâo yua kơ mơnuih tơdah `u hmâo abih lo\n tơnah, ha\ng pơrơngia\ [ôdah pơram `u pô?” “26Hlơi mlâo kơ Kâo ha\ng kơ dum hia\p Kâo, Ana\ Mơnuih amra mlâo kơ `u, lơm ~u rai ama\ng kơdrưh kơang ~u tôm Ama ha\ng [ing yang hiam”.

 

 

PƠBLANG

-“Hơngah lui be\ `u pô, glam be\ kơyâo bơrơkal `u pô” (9,23): Anun yơh tơlơi Yêsu Khua pơtô ama\ng djop Tơlơi Mơak Kla\ kơ hlơi pô kiang tui ~u (Mk 8,34-38; Mt 16, 24-27; 10,38; Lc 14,26-27…). }i la\i kho\m nga\ hla tui ~u, hra\m mơng ~u, rơbat nao [ơi jơlan ~u ama\ng lu tơlơi tơnap tap.

-“Pô anun amra pơtlaih gơ\” (9,24): laih lu tơlơi tơnap tap kiang rơbat tui Yêsu Khua, ~u ra\ pơthâo hlâo amra jing tơlơi mơak bia\ ma\: “Amra [uh gla\i gơ\” (Mt 10,39); “Amra pơtlaih gơ\” (Lk 17,33); “Amra dja\ pioh gơ\ kơ tơlơi hơdip hlong lar” (Yn12,25).

-“Hlơi mlâo kơ Kâo” (9,26): {ing pô juat tui pơrơđah tơlơi gơ`u đa\o gưt hơin kơ Yêsu Khua, [u djơ\ ~u ama\ng kơdrưh kơang ôh, [ia\dah ama\ng mlâo hyâo, a` kơ arang kôl pơdjai.

RA| RUAI BÔH TƠHƠNAL KƠ YÊSU KHUA

-{ing Pô Mơyang Djai Yua Kơ Đa\o jing ana\ mơnuih kar ha\ng abih mơnuih:

Hrơi anai, Khul Jơnum Mơyang Viêt Nam ta mơak pơpu\ kơ {ing Pô Mơyang [ơi ]ar Viêt Nam djai laih kiang kơ do# jơja\p ha\ng Yêsu Khua. Laih a` kơ arang kơp^ kơpe\t kơtang kơtit, tu\ ta\ anai gơ`u mơak hlong lar tôm ~u [ơi Dêh }ar Pơtao Adai.

-{ing Pô Mơyang Djai Yua Kơ Đa\o jing ana\ mơnuih kar ha\ng [ing ta, hu^ kơ djai amuaih kơ hơdip kar ha\ng [ing ta mơn. Ama\ng gơ`u hmâo mơn pô nga\ khua ]ar, nga\ tơhan. Hmâo mơn pô ma\ brua\ s^ mơdrô. Hmâo mơn pô do\p kưp, pô nga\ soh [lal yal hmâo bơnai dua. Hmâo mơn [ing tơda\m tơdra, [ing ]ơđai mơmuai.

Jing mơnuih, gơ`u ]ang ha\ng hor mơn sa tơlơi hơdip hiam, tơlơi hơdip mơak, hơdip dlông rông sui tôm ana\ tơ]ô kar ha\ng abih bang.

Tui anun yơh gơ`u a` laih kơ arang pơdjai tơnap tap. Yua kơ hơgơt? Yua kơ hlơi ?

-{ing Pô Mơyang djai yua kơ Khua Yang Adai:

{ing Pô Mơyang a` kơ arang pơ]ut pơ]ao, hil areh [u hmâo tơhơnal ôh.

Sit bia\ gơ`u “ana\ ba\ hiam Ama Adai, pô nga\ go\ng kơ Kristô Khua, pô do# kơja\p tôm Khul Jơnum Mơyang…Gơ`u kha\p kơ lo\n ia plơi pla…Gơ`u a` kơ arang kôl pơdjai [u thâo jam [uah ôh…Gơ`u pơrơngia\ h^ laih gơ`u pô yua kơ đa\o”  (tơlơi iâo la\i {ing Pô Mơyang Djai Yua Kơ Đa\o {ơi }ar Viêt Nam).

Gơ`u do# grong kơja\p ha\ng Yêsu Khua, a` kơ arang kơp^ kơpe\t mlâo mla` tơl djai [u hơngah lui Khua ôh. Pran jua gơ`u kơnong kơ ]ang ha\ng hor tơlơi mơak Khua Yang Adai [uan brơi kơ hlơi pô thâo do# hơđong grong kơja\p tơl tơlu].

{ing khua ]ar đưm adih nga\ tơnap lu lin kơ gơ`u, kiang kơ pơgo# gơ`u lui h^ tơlơi đa\o gưt, samơ\ [u dui pơklah gơ`u mơng pran kha\p Yêsu Khua ôh.

{ing khua ]ar đưm adih plư pla] gơ`u lui đa\o, samơ\ gơ`u djai tu\ mơn [u hưp ham prak mah [ơi lo\n tơnah hơngah lui Khua Yang Adai ôh.

-Drah {ing Pô Mơyang djai yua kơ đa\o jing pơjeh bluh đ^ tơlơi đa\o gưt:

Tơlơi tơnap {ing Pô Mơyang djai yua kơ đa\o lu lin bia\ ma\.

 

Yua mơng drah gơ`u tuh laih, tơlơi đa\o gưt ha\ng Tơlơi Mơak Kla\ mơ dui pơhmư\ brơi kơ [ing ta hrơi anai: “Drah {ing Pô Djai yua kơ đa\o jing pơjeh mơbôh Khul Jơnum Mơyang”.

 

Tơlơi đa\o gưt jing kông ngan yôm bia\ {ing Pô Mơyang Djai Yua Kơ Đa\o pioh gla\i kơ [ing ta. }ơka\ be\ ta ha\ng pran jua hơdor tơngia. Hơdip be\ ta tui đa\o ha\ng pơhmư\ brơi be\ ta đa\o kơ ana\ tơ]ô ta dơng.

{ing Pô Mơyang djai laih kiang kơ nga\ go\ng kơ Khua, [ing ana\ đa\o hơdip be\ ta kiang kơ nga\ go\ng tui anun mơn.

Ngă tui Hia\p Yêsu Khua

{ing ta tơ]ô tơ]e\ re\ ruai {ing Pô Mơyang Djai Yua Kơ Đa\o [ơi ]ar Viêt Nam, hơdip be\ ta tui đa\o ha\ng pơhmư\ brơi be\ đa\o ha\ng sa tơlơi hơdip kla\ tơpa\ hiam, thâo kha\p thâo pap…tui Hia\p Adai, tui Ama Adai kiang.

Anun yơh tơlơi hiam hloh kiang kơ mơak hrơi pơpu\ kơ {ing Pô Mơyang Djai Yua Kơ Đa\o [ơi ]ar Viêt Nam hrơi anai.

Iâo lăi

Ơ Yêsu Khua tơnap tap [ơi Kơyâo Bơrơkal, kơnang mơng {ing Pô Mơyang Djai Yua Kơ Đa\o [ơi ]ar Viêt Nam iâo la\i gum, rơkâo brơi kâo thâo gla\m tu\ kơyâo bơrơkal pô rim hrơi, đah mơ rơbat tui Ih tơl tu] tơnu]. Amen

Rup pơ[uh 

Hơi pơrơngia\ tơlơi hơdip `u pô yua kơ Kâo, pô anun amra pơtlaih gơ\

Câu chuyện minh họa

Chuyện tử đạo của Thánh Phaolô Mợi kể lại như sau:

Quan bắt ngài “quá khóa”: một bên là Thánh giá, một bên là vàng bạc, ở giữa là một thanh gươm. Đạp lên Thánh giá là sống, được vàng. Nếu không đạp lên Thánh giá, gươm sẽ chém. Quan truyền cho Phaolô Mợi:

-Anh đạp tượng Thánh giá đi, tôi sẽ cho anh 1 nén vàng.

-(Thinh lặng)

-Vậy 2 nén vàng

-Bẩm quan chưa đủ

-Vậy anh muốn bao nhiêu ?

-Bẩm quan lớn, quan lớn muốn tôi “quá khóa”, thì quan phải cho tôi đủ vàng để mua được một linh hồn khác cho tôi.

-Chém đầu !

 

GIÁO PHẬN KONTUM

NĂM PHÚC ÂM HOÁ XỨ ĐẠO VÀ BUÔN LÀNG  2015

TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN B (15/11/2015)

(Lc 9,23-26)

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

23Rồi Ðức Giêsu nói với mọi người: «Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. 24Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. 25Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì? 26Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần.

Chú giải

-“Từ bỏ chính mình, vác thập giá mình”  (9,23): Đó là lời dạy xuyên suốt Tin Mừng của Chúa Giêsu cho những ai muốn làm môn đệ của Người (Mc 8,34-38; Mt16,24-27; 10,38; Lc14,26-27…). Có nghĩa là phải bắt chước Chúa Giêsu, học với Người, đi trên con đường của Người với biết bao hi sinh đau khổ.

-“Thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (9,24): Theo sau lời kêu gọi vui chịu mọi hi sinh đau khổ để làm môn đệ Người, Chúa Giêsu luôn luôn báo trước những ơn phúc chắc chắn sẽ theo sau: “Sẽ tìm thấy được mạng sống”  (Mt 10,39); “Sẽ bảo tồn được mạng sống”  (Lc 17,33); “Sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”  (Ga 12,25).

-“Xấu hổ vì Tôi” (9, 26): Các môn đệ sẽ phải tuyên xưng lòng trung thành với Đức Kitô, không phải là một Đức Kitô trong vinh quang, nhưng trong đau khổ nhục nhã, chịu xử tử và chịu chết.

 

Kể chuyện Đức Giêsu

-Các Thánh Tử Đạo là những con người như mọi người

Hôm nay, Hội Thánh Việ Nam hân hoan mừng lễ Các Thánh Tử Đạo, đã chịu chết vì trung thành với Đức Giêsu, trên mảnh đất Việt Nam. Sau những cực hình, hôm nay các ngài đang được cùng với Chúa hưởng hạnh phúc bất tận nơi Thiên Quốc.

Các Thánh Tử Đạo cũng là những con người như chúng ta, cũng ham sống sợ chết như mọi con người. Có người làm quan, có người đi lính cho triều đình. Có người làm ăn buôn bán. Thậm chí có người đã từng là trộm cướp, có người đã từng sống bê tha vợ lớn vợ nhỏ. Có người còn rất trẻ, còn là  thanh niên thiếu nữ trẻ trung yêu đời…

Là người, các ngài cũng mơ ước một cuốc sống bình thường, được sống hạnh phúc, được sống lâu với gia đình con cháu như mọi người.

Thế nhưng tại sao các ngài đã tự nguyện chịu chết thảm thương như thế. Vì sao ? Vì ai ?

-Các Thánh Tử Đạo đã chịu chết vì Chúa

Các ngài đã bị người ta vu cáo đủ chuyện xấu xa cách bất công. Các ngài đã bị thù ghét ngược đãi cách vô cớ.

Các ngài là « Con thảo của Chúa Cha, là chứng nhân của Đức Kitô, là thành phần trung kiên của Hội Thánh…Các ngài yêu quê hương yêu dân tộc…Các ngài đã cam lòng chịu chết mà không oán hận…Các ngài đã hy sinh tất cả vì Đức Tin » (Kinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam).

 

Các ngài đã trung thành với Chúa, vui chịu mọi khổ đau nhục nhã, cho đến chết, chứ không chối Chúa, không bỏ Chúa. Lòng các ngài chỉ mong vào hạnh phúc vĩnh cửu Chúa hứa ban cho những ai biết bền vững đến cùng.

Vua quan ngày xưa đã bày ra nhiều cách để tra tấn làm khổ, đe dọa…để làm lung lạc đức tin của các ngài, nhưng không thể tách lìa các ngài ra khỏi tình yêu Đức Kitô

Vua quan ngày xưa đã dùng nhiều cách để dụ dỗ các ngài bỏ đạo, nhưng các ngài thà chết chứ không vì ham vàng bạc, lợi danh, vui thú đời này mà chối Chúa, bỏ đạo.

-Máu Các Thánh Tử Đạo là hạt giống nảy sinh đức tin :

Những hi sinh đau khổ của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam thật vô bến vô bờ.

Chính nhờ cái chết và lòng trung thành của Các Thánh Tử Đạo mà đức tin và Tin Mừng của Chúa mới được rao giảng và truyền lại cho chúng ta hôm nay : « Máu Các Thánh Tử Đạo là hạt giống làm nảy sinh Hội Thánh »

Đức Tin là gia sản cao quí Các Thánh Tử Đạo Việt Nam để lại cho chúng ta hôm nay. Chúng ta hãy đón nhận với lòng biết ơn, và đến lượt chúng ta phải sống đạo và truyền đạo cho con cháu mình.

Các Thánh Tử Đạo đã chết để làm chứng cho Chúa, thì người có đạo chúng ta hôm nay cũng hãy sống để làm chứng như vậy

Thực hành Lời Chúa Giêsu

Là con cháu của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta hãy sống đạo và truyền đạo bằng một đời sống tốt lành, lương thiện, bác ái…sao cho đúng với Tin Mừng, đúng với ý Chúa.

Đó là cách tốt nhất để mừng lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay

 

 

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu đau khổ trên Thánh giá, nhờ lời Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cầu thay nguyện giúp, xin giúp con biết vui lòng vác Thánh giá trong đời mình, để theo Chúa đến cùng. Amen

 

Hình minh hoạ

 

Ai liều mất mạng sống mình vì Tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy

Câu chuyện minh họa

Chuyện tử đạo của Thánh Phaolô Mợi kể lại như sau:

Quan bắt ngài “quá khóa”: một bên là Thánh giá, một bên là vàng bạc, ở giữa là một thanh gươm. Đạp lên Thánh giá là sống, được vàng. Nếu không đạp lên Thánh giá, gươm sẽ chém. Quan truyền cho Phaolô Mợi:

-Anh đạp tượng Thánh giá đi, tôi sẽ cho anh 1 nén vàng.

-(Thinh lặng)

-Vậy 2 nén vàng

-Bẩm quan chưa đủ

-Vậy anh muốn bao nhiêu ?

-Bẩm quan lớn, quan lớn muốn tôi “quá khóa”, thì quan phải cho tôi đủ vàng để mua được một linh hồn khác cho tôi.

-Chém đầu !

 

 

PƠPU| KƠ {ING PÔ MƠYANG DJAI NGA| GO|NG KƠ TƠLƠI ĐA|O {ƠI }AR VIÊT NAM

 

1.HIA|P ADAI MA| MƠNG HRA| TAL DUA MAKABÊ 7,1.20-23.27b-29.

 

1Lơm anun arang mă mơn tơjuh ]ô adơi ayong tôm am^ gơ`u,

hăng ơi pơtao brơi taih gơ`u hăng gai hơnuăt tôm arăt rơmô,

pơgo# gơ`u [ong mơnong bơbui, tơlơi phian kom [u brơi.

20Pô am^ gôp arang pơpu\ bơni biă mă hăng [ing pô hiam hơdor:

~u [uh tơjuh ]ô ană dăm `u djai amăng sa hrơi,

`u khin a` yua kơ `u ]ang gơnang [ơi KHUA ADAI,

21`u alum pơtrut rim ]ô gơ`u

amăng tơlơi pơhiăp ama mơdôn gơ`u,

bă blai kơ tơlơi kơhơnâo,

pơmu\t hrom ai hơtai đah rơkơi

tôm pran jua rơun thun sa ]ô đah kơmơi,

22`u lăi kơ [ing ană `u:

“Kâo [u thâo ôh hyưm gih jing laih amăng tian kâo;

kơyuadah [u djơ\ ôh kâo brơ ikơ gih jua, bơngat hăng tơlơi hơdip;

[u djơ\ kâo lơi pơtlep hrom dum ]ơran drơi jan kơ rim ]ô gih;

23[iădah Pô pơjing rơngit lo\n, Pô man laih mơnuih mơnam,

Pô pơsit pơphun djop mơta mơnong,

amăng pran jua ~u khăp pap,

~u amra brơi glăi kơ gih jua hăng tơlơi hơdip,

yua kơ tu\ tă anai gih lăng tơlơi phian ~u yôm hloh kơ gih pô.

27b~u lăi kơ ană rơnu] `u: “Ơ ană, pap mơ`ai kơ kâo đa,

kâo [ă ih duarơpăn blan amăng tian kâo,

pơmem ih hăng ia tơsâo kâo tlâo thu\n,

[ă [em ]em rong ih prong truh pơ thu\n anai.

28Kâo kơwưh ih lăng rơngit lo\n

hăng djop mơta mơnong amăng anun,

hăng thâo hluh KHUA ADAI yơh

Pô hrưh pơjing djop mơta mơng soh sel,

tôm djuai mơnuih mơnam;

29tui anun, ih amra [u hu^ ôh kơ pô kơp^ kơpet ih anai;

samơ\ ih jing gôp hăng [ing adơi ayong ih be\;

]ơkă tu\ tơlơi djai be\,

kiang kơ truh hrơi KHUA ADAI khăp pap,

~u amra brơi glăi ih, hrom tôm [ing ayong ih, kơ kâo.

 

ANUN HIA|P KHUA YANG ADAI BIA|.  

 

  1. Rm 8,31b-39
  2. Lk 9,23-26