MỐI ĐE DỌA TỪ NỀN VĂN HÓA THỐNG TRỊ VÀ TOÀN CẦU

Nhóm của Lm. Niphot Thienvihan

(Nghiên cứu và huấn luyện về Tôn giáo và Văn Hóa cho Trung Tâm Cộng Đồng, Chiang Mai, Thailand)

 

BỐI CẢNH CHUNG VỀ SẮC TỘC

Căn cứ trên bản báo cáo của Nhóm Làm Việc Quốc Tế (International Work Group) về các vấn đề của người thiểu số, thì ước chừng có từ 350 – 370 triệu người thiểu số sống trong 72 quốc gia (IWGIa,2005). Phần lớn trong số họ sống tại Á Châu và là dân nghèo. Tại Việt Nam có 54 dân tộc.

 VŨ TRỤ QUAN SẮC TỘC VÀ VŨ TRỤ QUAN THỐNG TRỊ (dominant)

 Rõ ràng là các sắc tộc có vũ trụ quan riêng (own wordview), những tin tưởng coi như di sản thật phong phú có thể góp phần vào việc tái huyền diệu hóa thế giới (re-enchant the world).

Thế giới chúng ta ngày nay có hai vũ trụ quan nổi bật, vũ trụ quan đường thẳng (linear) hay máy móc (mechanistic) và vũ trụ quan liên đới (relational) hay linh thánh (holistic). Vũ trụ quan liên đới hay linh thánh có gốc rễ trong tín ngưỡng và văn hóa sắc tộc. Họ tin rằng mọi sự đều liên kết đan quyện với nhau như máu nối kết một gia đình. Terry Cross nhấn mạnh rằng cái nhìn liên đới là trực giác (intuitive), vượt thời gian (non-time oriented) và linh động (fluid). Sự cân bằng và hài hòa trong giao tiếp giữa vô vàn yếu tố bao gồm cả những năng lực linh thiêng làm thành cốt lõi của cả hệ thống tư duy và xây lên một vũ trụ quan. Mỗi yếu tố đều liên kết với tất cả những yếu tố khác, không cần quan tâm đến thời gian, không gian hay thể lý.

Bởi vì người sắc tộc tin rằng mọi vật đều có tính linh thánh. Đối với họ sự linh thiêng không chỉ giới hạn trong sự cứu rỗi hay linh hóa con người mà thôi, mà cả tạo thành của thế giới vật thể. Cái nhìn linh thánh này trái ngược với vũ trụ quan khoa học hay máy móc có gốc rễ trong tư tưởng Âu Mỹ hình thành những chia cắt, phân mảng, cô lập, dẫn tới tha hóa và rã tan. Cái nhìn máy móc đã tạo nên những cuộc khủng hoảng đa chiều trong mọi khía cạnh của đời sống chúng ta như cho sức khoẻ, lối sống, quan hệ xã hội, môi trường và đặc biệt về mặt đạo đức luân lý và tâm linh.

Giới trẻ trong xã hội hiện đại, vốn được đào tạo chủ yếu dựa trên tư duy khoa học và duy lý với xu hướng chối bỏ chiều kích linh thiêng, thiên về khoa học và duy lý, đã tạo ra một cái nhìn phân rẽ giữa cái đầu với con tim, giữa lý trí và thân xác, giữa nhân đạo và tự nhiên, và giữa vật chất và tinh thần. Cái lối nhìn phân mảng như thế ảnh hưởng tới lối suy nghĩ và lối sống của giới trẻ, làm cho họ nghiêng về  sử dụng tư tưởng duy lý và càng ngày càng ít tin tưởng vào Thiên Chúa và các thần linh, như Weber đã chứng minh “duy lý gia tăng trong xã hội gây ra sự phi huyền diệu hóa thế giới (disenchantment of the world)”. Weber nhấn mạnh rằng cái thứ văn hóa quyền lực lý trí công cụ lấn át đang chiếm thế thượng phong, có xu hướng bao trùm mọi chiều kích trong xã hội, sản sinh ra một xã hội cứng ngắc, áp bức, được lập trình một cách khoa học, “một cái lồng sắt” kéo theo một nền văn hóa suy thoái và giết chết những giấc mơ của toàn thể nhân loại.

Trước thế kỷ 15, vũ trụ quan ưu thế của Âu Châu được triển khai từ một vũ trụ quan hữu cơ. Dân chúng sống trong những cộng đồng nhỏ và cảm nghiệm thiên nhiên theo một quan hệ có tính cách hữu cơ, với đặc điểm là sự tương hỗ giữa hiện tượng vật chất và tinh thần và nhu cầu cá nhân tùy thuộc nhu cầu của cộng đồng.

Sau đó qua thế kỷ 16-17, thời Cách Mạng Khoa Học, cái nhìn hữu cơ tự nhiên của Âu Châu hoàn toàn bị thay thế cái nhìn coi thế giới như một cỗ máy. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc làm và triết lý của René Descartes và Isaac Newton đã trở thành xu hướng chủ đạo cho sự phát triển ở phương Tây làm cho dân chúng khó tin vào Thượng Đế và các thần linh, cuối cùng là chiều kích thần thiêng hoàn toàn biền khỏi trong mọi toan tính khoa học. Thế giới như một cỗ máy chiếm ưu thế trong cái nhìn về vũ trụ cho tới ngày nay (Fritjof Capra, 1981).

Trong những thập niên 1970, bắt đầu xuất hiện một sự thay đổi ấn tượng về vũ trụ quan, sau những thập niên tiến bộ khoa học, quan niệm máy móc theo Descartes và Newton bắt đầu thay đổi thành một cái nhìn linh thánh và sinh thái, mà Capra gọi là “thay đổi biến hóa” (Paradigm shift) (xuất phát từ công trình của khoa học gia Thomas Khun). Theo Capra, “biến hóa” có nghĩa là một cái nhìn mới về thực tế, một thay đổi cơ bản về mặt tư tưởng, nhận thức và giá trị. Đó là thách đố lớn của thời đại chúng ta là xây dựng và nuôi dưỡng những cộng đồng khả dĩ là cộng đồng nhân bản, cộng đồng địa cầu hay cộng đồng hành tinh bắt nguồn từ vũ trụ quan linh thánh, tín ngưỡng và nghi lễ của các sắc tộc.

MỐI ĐE DỌA TỪ NỀN VĂN HÓA THỐNG TRỊ TOÀN CẦU

The Threat from Dominant Cultural and Globalized Culture

Sự va chạm của nền văn hóa thống trị đối với nền văn hóa của các sắc tộc được thảo luận trong nhiều trường hợp liên quan: như sự va chạm của nó về văn hóa, trong việc thực hiên các siêu dự án trong các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông, trong chính trị về mặt quốc gia để áp đặt chương trình tổng thể cho việc phát triển cộng đồng sắc tộc, cho mội trường và vấn đề kiểm soát chất ma tuý trên các vùng cao nguyên. . . tất cả đều đụng chạm tới các nền văn hóa và căn tính của các sắc tộc.

Như đã nói ở trên, nền văn hóa thống trị xuất phát tữ vũ trụ quan đường thẳng cha chú, chủ trương muốn có quyền lực phải gia tăng kiểm soát kẻ khác, kiểm soát thiên nhiên. Vũ trụ quan này càng gia tăng quyền lực theo đà tiến bộ tư duy khoa học kỹ thuật hiện đại.

Theo Scholte (2000) việc toàn cầu hóa hay văn hóa toàn cầu xoay quanh năm định nghĩa: Internationalization (quốc tế hóa), trao đổi quốc tế gia tăng, làn sóng mậu dịch và vốn đầu tư giữa các quốc gia gia tăng và tùy thuộc lẫn nhau. Liberalization (Tự do hóa), hội nhập kinh tế thế giới qua việc chuyển hóa hạn chế do các chính phủ áp đặt trên trào lưu giữa các quốc gia nhằm tạo ra một nền kinh tế thế giới “mở” (open) “không biên giới” (bordeless). Universalism (phổ quát), tổng hợp văn hóa qua việc phổ biến các ý tưởng, mục tiêu và kinh nghiệm xuyên qua tất cả các vùng trên thế giới. Modernazation, phổ biến cơ cấu và qui trình xã hội hiện đại như chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa công nghệ (cách riêng từ phương Tây) cho các xãhội không thuộc phương tây, thường chống lại các nền văn hóa có trước qui trình. Và de-territorialization (phi lãnh thổ hóa), bao gồm việc vẽ lại bản đồ và biến đổi không gian tổ chức quan hệ xã hội qua đó không gian và tổ chức xã hội không còn trên bản đồ theo nghĩa vị trí lãnh thổ hay biên giới lãnh thổ.

Toàn cầu hóa đã xâm nhập vào tất cả các ngõ ngách của thế giới, gây thiệt hại cho các nền văn hóa địa phương, bao gồm cả văn hóa các sắc tộc. Toàn cầu hóa có sức mạnh áp lực đồng hóa làm cho các nền văn hóa nhỏ hơn, yếu hơn phải mai một. Việc phi lãnh thổ hóa văn hóa cổ võ sự qui tụ kiểu mẫu văn hóa, như văn hóa Âu Tây đang được các địa phương hấp thụ như một thứ văn hóa chủ đạo.

Nhiều học giả kết luận rằng việc toàn cầu hóa góp phần gia tăng khoảng cách giầu nghèo, gia tăng nghèo túng và loại trừ các sắc tộc ra bên lề. Theo Mingsarn và Dore (2003) nhấn mạnh rằng người giầu và thiểu số lãnh đạo có vị trí ưu thế có lợi trong việc toàn cầu hóa vì họ dễ đạt tới vốn liếng, thị trường, truyền thông và kỹ thuật.

Thế giới của chúng ta ngày nay qui hướng về tư bản chủ nghĩa và tiêu thụ chủ nghĩa. Tất cả tư duy, ý tưởng, quan niệm và vũ trụ quan máy móc của nó đều tăng tốc với nhiều hình thức quảng cáo thâm nhập chúng ta, xuyên qua cửa sổ nhà chúng ta, vào tận phòng ngủ của con cái chúng ta. Những giá trị vật chất thấm vào máu và đời sống con cái chúng ta, để rồi cuối cùng chúng thấy rằng giá trị vật chất làm thành sự sống, làm thành lối sống của chúng. Tiến bộ kỹ thuật làm cho giới trẻ gia tăng khả năng hấp thụ những tư tưởng ngoại lai, dễ dàng thực hành hơn là truyền thống của chính mình. Sắc tộc, họ hàng, cộng đồng và những hình thức riêng biệt khác là những hình thức ít được chấp nhận trong tổ chức xã hội trong những lãnh vực đòi cởi mở hơn.

ĐỤNG CHẠM TRONG CÁC SIÊU DỰ ÁN

Ví dụ như xây đập trong Tiểu Vùng Mêkông. Đụng tới 6 Nước: Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cam-bốt, Việt Nam, trong một diện tích 2.3 triệu km2, vớikhoảng 250 triệu dân, trong đó có hơn 100 sắc tộc. Dr. Yos (2008) cho thấy rằng việc xây đập như thế đụng chạm tới các sắc tộc, sự đa dạng sinh hóa, loại trừ kinh tế tự cung tự cấp, biến nông dân lệ thuộc vào thị trường của các nhà sản xuất, hủy hoại  thảo mộc và các giống cá. Dr. Cronin (2009) quả quyết rằng dự án nhất định sẽ tạo cảnh di dân, làm thiệt hại tới an ninh lương thực, gây ra làn sóng di dân tới các thành phố lơn hay các nước láng giêng, và ngăn chặn sự di chuyển của cá. Việc di dân không những phá tan làng mạc và văn hóa truyền thống, mà còn đưa những dân tộc này tới những môi trường không được đụng tới và như vậy là phá hoại môi trường. . .

VAI TRÒ CỦA HỘI THÁNH

Chúng ta đã thấy rằng các sắc tộc đã phải đấu tranh cam go để tạo nên một không gian cho họ tái tạo và tái xây dựng tín ngưỡng, căn tính và văn hóa của họ cũng như sự khôn ngoan hiểu biết của họ về các mặt khác nhau để đuợc các xã hội lớn hơn công nhận ở mọi cấp bậc vốn được một số tổ chức không chính phủ và Hội Thánh nâng đỡ.

Hội Thánh trước tiên phải đối đầu với một mục vụ cho những di dân xuyên quốc gia, những cộng đồng đa văn hóa, đa tôn giáo, nhất mục vụ cho giới trẻ.

Quan trọng hơn, Hội Thánh giữ vai trò rất có ý nghĩa trong việc bảo tồn và gia tăng căn tính và văn hóa của các sắc tộc. Bởi vì phải công nhận rằng các giá trị văn hóa của các sắc tộc thực sự có liên quan với các giá trị Tin Mừng và giáo huấn của Hội Thánh. Đàng khác, Hội Thánh cũng được coi như là một phần của việc toàn cầu hóa làm thay đổi tín ngưỡng và văn hóa của các sắc tộc. Nhưng những nghiên cứu của Kwanchiwan và đồng nghiệp (2003) việc trở lại cũng giúp xây dựng và bảo tồn rộng rãi căn tính của sắc tộc. Vì Hội Thánh thường tìm hiểu và khám phá văn hóa các sắc tộc, và các thừa sai cả Phật Giáo lẫn Kitô giáo đều tạo ra những không gian gặp gỡ và phát triển giữa các làng, thậm chí giữa các quốc gia và tạo nên ý thức về căn tính. Đồng thời lại có những xu huớng tôn giáo mới cố gắng duy trì dòng tộcvà căn tính của các dân tộc để tào thành những cộng đồng tôn giáo mạnh mẽ. Làm thế nào để các tập tục được duy trì trong các tôn giáo, điều này tùy thuộc vào sự thương lượng về ý nghĩa các tập tục do chính những người sắc tộc đã nhập đạo rút ra.

GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO VỀ CÁC SẮC TỘC

Dựa theo Lm Theodore Mascarenhas sfx

Thuộc Văn Phòng Tòa Thánh về Văn Hóa

- CĐ Vatican II đã khơi dậy một vấn nạn: “Phải làm gì để sự trao đổi văn hóa phong phú kia tạo được sư đối thoại đích thực và kiến hiệu giữa các tập thể và các quốc gia khác nhau mà không làm xáo trộn cuộc sống của các cộng đồng, không phá hủy sự hiểu biết từ tổ tiên, hay gây nguy hại đến đặc tính của từng dân tộc?” (Gaudium et Spes 56). Đây là vấn nạn mà các sắc tộc trên toàn thế giới cũng như tại Á Châu đang đấu tranh để tìm ra câu trả lời đúng đắn.

Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II nhận xét rằng “những đường lối chính trị bất công làm đặc biệt tổn hại đến các dân tộc bản địa, các quốc gia non trẻ và các nền văn hóa truyền thống; và nhiệm vụ của Hội Thánh là giúp các nền văn hóa bản địa gìn giữ được căn tính của họ và bảo tồn những truyền thống của họ” (Ecclesia in Oceania 28). Ngài quả quyết rằng Hội Thánh phải “ủng hộ tất cả các dân tộc bản địa đang tìm sự công nhận một cách công bằng và chính đáng căn tính và các quyền của họ” và tuyên bố “ủng hộ khát vọng của các dân tộc bản địa cho một giải pháp công bằng cho vấn đề phức tạp tha hóa đất đai của họ” (Ecclesia in Oceania 28). Ngài chủ trương quan điểm rằng “quá khứ không thể lặp lại, nhưng việc nhìn nhận những bất công trong quá khứ có thể dẫn tới những biện pháp và thái độ giúp điều chỉnh những hậu quả cho cả cộng đồng sắc tộc và xã hôi rộng lớn hơn”. Và Ngài tuyên bố “Hội Thánh biểu lộ niềm tiếc nuối sâu xa và xin lỗi ở những nơi mà con cái Hội Thánh đã và còn phạm vào những sai lầm đó” (Ecclesia in Oceania 28).