HẠT GIỐNG KITÔ TRONG ĐẤT JRAI

hatgiong

HẠT GIỐNG KITÔ TRONG ĐẤT JRAI, PHẦN 1

Lm. Trần Sĩ Tín – DCCT

Lời giới thiệu

Hạt giống Kitô trong đất Jrai là một câu chuyện kể có thật suốt 40 năm về Chúa Giêsu dưới dạng hồi ký giữa người Jrai (10.10.1969 – 10.10.2009) trên vùng đất Tây Nguyên – Việt Nam. Phần lớn câu chuyện xảy ra trong những năm tháng bom đạn và tù đày, những năm tháng hoà bình với thiếu thốn và khó khăn. Tưởng chừng không có ai đón nhận Tin mừng, ngoại trừ một số làng của thời mở đạo Tây Nguyên. Nhưng, đặc biệt sau biến cố tôn phong 117 vị thánh tử đạo tại Việt Nam, năm 1988, lại có nhiều người đã tìm đến với Đức Kitô trong Hội Thánh Công Giáo. Họ là những người Jrai nghèo khổ nơi nông thôn, hoặc những tù nhân tại các trung tâm cải tạo. Họ đã lớn lên và được khắp nơi biết đến. Họ đã có những đóng góp quí báu và độc dáo cho bản thân những nhà thừa sai cũng như cho Giáo Hội.

Đọc câu chuyện này, bạn sẽ thấy chính Thiên Chúa đã gieo hạt giống trong mỗi sắc tộc và cũng chính Ngài làm cho hạt giống đơm bông kết trái, Ngài viết lên những trang sử thánh, chứ không phải con người. Ngài mới là chủ lịch sử.

Hạt giống Kitô trong đất Jrai” giúp bạn tiếp cận với nhiều vấn đề liên quan đến người thừa sai như: Loan Báo Tin Mừng và Hội Nhập Văn Hoá, đường hướng và phương pháp truyền giáo, Kinh Thánh và Phụng vụ, vấn đề sắc tộc thiểu số và vấn đề phát triển….

Đây là lời giới thiệu của Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh

 

 

Kontum ngày 9 tháng 9 năm 2009

    + Micae Hoàng Đức Oanh

   Giám mục Giáo Phận Kontum

 

 

 

Chương I: Chuyện nhóm Pleikly

Ra đi

Bầu khí chung của chúng tôi là Giáo hội ngay sau Công đồng Vatican II (1962 – 1965), là Lumen Gentium (hiến chế ánh sáng muôn dân), là Ad Gentes (Sắc lệnh truyền giáo), là Hội Thánh Giữa Lòng Thế Giới (hiến chế Gaudum et Spes: Vui mừng và hy vọng), là Agiornamento (Canh Tân)… là đưa Giáo hội ra khỏi Vatican… có một cuốn sách tiêu biểu của thời đó: Đạo là đường hay phái đài của Thầy Nguyễn Ngọc Lan, giáo sư học viện thời đó của chúng tôi, mà tài năng, tư tưởng và thái độ dấn thân không thể không ảnh hưởng trên chúng tôi. Nói tới các giáo sư học viện của chúng tôi thời đó, cũng không thể không nhắc tới những vị như Alphonse Tremblay, cha Thomas Côté, Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn, Cha Phaolô Đinh Khắc Tiệu… vì sự uyên thâm của các ngài, nhưng nhất là vì thái độ dấn thân nghiêm túc của các ngài, chúng tôi không chỉ coi các ngài là những giáo sư chuyện nghiệp đơn thuần đến lớp truyền đạt kiến thức, mà còn là những vị “Thầy” đã để lại dấu ấn sâu đậm và tích cực trên đời sống của chúng tôi.

 
Những năm diễn ra Công Đồng Vatican II chính là những năm tôi thụ huấn tại học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đàlạt Việt Nam . Tinh thần CANH TÂN mà Công Đồng cổ võ trong mọi lãnh vực lại cũng là tinh thần TRỞ VỀ NGUỒN , trở về nguồn Tin Mừng và đối các tu sĩ là trở về nguồn đặc sủng của Đấng Sáng Lập Dòng. Dòng Chúa Cứu Thế có mục đích theo Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng cho những người cô thân tất bạt bị bỏ rơi nhất . Toàn thể công cuộc đào tạo là hướng về mục đích ấy. Các Thừa Sai Dòng Chúa Cứu Thế Canada đã được kêu gọi thiết lập Dòng Chúa Cúư Thế tại Việt Nam từ năm 1925. Các ngài đã mở ra những sứ vụ ( missions-người Việt Nam quen gọi là các kỳ Đại Phúc ) chủ yếu cho các vùng nông thôn Việt Nam. Khi chuyển giao quyền điều hành Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam cho các đồng huynh Việt Nam , các Cha Canada lại mở ra sứ vụ Tin Mừng cho đồng bào thiểu số Kơho tại vùng Phi Yang phía đông nam Đàlạt .Trong những năm ở học viện Dòng Chúa Cứu Thế ĐàLạt ,vào những kỳ hè,chúng tôi được gửi tới những môi trường hoạt động của Dòng. Tôi đã cùng anh em có mặt tại Sàigòn để phổ biến những tài liệu về Công Đồng. Và tôi đã nghĩ tới sống với giới phu bến tàu , hay những người Trung Hoa. Tôi đã trải qua một kỳ hè với Cha Alphonse Nguyễn Đức Điềm ( năm 1965 lúc đó ngài vẫn còn ở HV ) tại Thạch An , Châu Ổ , Quảng  Ngãi – một trung tâm truyền giáo cho người lương . Từ những năm 1967 trong các kỳ nghỉ , tôi đã đến sống với các cha Canada ở Dà Mpao (“ Suối Mơ “ một giáo điểm khác của Phi Yang)  Tôi làm quen với hai thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam là Tu Huynh Léonard Quân và Lm Antôn Vương Đình Tài, vốn đã sống với người Kơho từ những năm 1959,1960 ở Phi Yang và Koya. Công việc của tôi trong thời gian ấy là quan sát và học tiếng. Kỷ niệm của thời này , tôi chỉ nhớ chuyện đi câu . Tôi thuộc một gia đình nông dân có truyền thống mê câu cá. Hôm đó tôi theo một thanh niên người Chil hay Bon Ya gì đó ( chi nhánh của nhóm ta quen gọi là Kơho ) , đi câu cá ở suối Dà Dờng ( thượng nguồn sông Đồng Nai ) Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên và thú vị là mổi khi câu đươc cá thì anh thanh niên đó rất tự nhiên bỏ cá vào túi áo hay túi quần . Điều mà người Kinh chúng tôi không bao giờ làm ! Tôi bắt đầu thấy người ta rất khác mình .      Năm 1969 là năm học viện cuối cùng của tôi. Đầu năm ấy Cha Vương Đình Tài tới gặp chúng tôi ( Nguyễn Đức Mầu và Trần Sĩ Tín ) và bàn chuyện RA ĐI tới một nơi nào đó, bất cứ nơi nào, trong vùng đất của người thiểu số chưa theo Đạo. Tôi nhớ đó là thoả ước đầu tiên của nhóm chúng tôi: RA ĐI – SỐNG CÙNG NGƯỜI THIỂU SỐ – CHƯA THEO ĐẠO. Lời Chúa hướng dẫn chúng tôi là Rm 15,16-21: “Làm tư tế của Đức Giê-su Ki-tô nơi các dân ngoại, mà hành lễ là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để lễ phẩm là dân ngoại được Thiên Chúa vui lòng chiếu nhận bởi được tác thánh trong Thánh Thần…Quả tôi sẽ không dám nói đến điều gì Đức Ki-Tô đã không dùng tôi để thi thố ra, mà làm cho dân ngoại biết đàng vâng phục: Bằng lời nói và việc làm, bởi quyền năng, dấu lạ và điềm thiêng, bởi quyền năng của Thần Khí… Nhưng như một danh dự tôi chỉ rao giảng Tin Mừng ở đâu Danh Đức Ki-tô chưa dội đến để khỏi đi xây trên nền móng kẻ khác đã đặt. Song như đã viết:          “Những kẻ không được loan báo về Người, sẽ thấy.        Những kẻ không hề nghe nói về Người sẽ hiểu.” ( Rm 15, 16 – 21)          Nhóm chúng tôi lúc ban đầu lấy tên là Nhóm RA ĐI. Chúng tôi bấy giờ đã có bốn người: Một Linh Mục là cha An-tôn Vương Tình Tài, một Tu huynh là thầy Léonard Quân, hai phó tế là Giu-se Trần Sĩ Tín và Phê-rô Nguyễn Đức Mầu ( cùng lớp). Theo luồn gió mới của Công Đồng, tất cả chúng tôi đều cảm thấy cần phải ra đi khỏi một cơ cấu nào đó của Hội Thánh, của Nhà Dòng đã trở nên quá chật hẹp, quá sơ cứng… Nhưng thực ra chúng tôi cũng không biết phải đi về đâu, làm thế nào, làm cái gì??? Từ đó nhóm chúng tôi trở thành nhóm tìm kiếm, về sau này chúng tôi gọi là Nhóm Tầm Đạo. Lối TU ĐẠO của chúng tôi là TẦM ĐẠO. Và lối TRUYỀN ĐẠO hay đúng hơn lối CHỨNG ĐẠO của chúng tôi vẫn là TẦM ĐẠO.           Đó là dòng giõi những người tìm kiếm Gia-vê.         Những kẻ tìm kiếm nhan Người, Thiên Chúa của Gia-cóp ( TV 23,6)          Nhưng tại sao lại rời giáo điểm Phi Yang của người Cơ Ho?      - Lý do thứ nhất là vì từ cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968 của quân đội cộng sản Giải phóng miền Nam, cuộc chiến càng ngày càng trở nên khốc liệt. Dân bản làng ở những vùng sâu vùng xa bị dồn về những trung tâm tị nạn. Thực ra đây là một cuộc chiến lấn đất dành dân. Các thừa sai không còn có thể đi đến những làng xa. Và cả các thừa sai lẫn dân chúng đều bị dồn về giáo điểm Phi Yang, Dà Mpao, Rơlơm. Chính trong hoàn cảnh này, vào một ngày tĩnh tâm tháng của nhóm thừa sai dòng Chúa Cứu Thế Phi Yang ( hầu hết là các linh mục người Canada), cha Tài đã đề nghị với bề trên cho Ngài đi lập một giáo điểm mới. Đề nghị được chấp thuận, tuy chính cha Tài cũng chưa biết sẽ đi đâu.   - Lý do thứ hai ban đầu mù mờ, nhưng sau càng ngày càng rõ: chúng tôi muốn sống và làm một cái gì đó khác với những gì chúng tôi đã thấy và đã sống. Chúng tôi rất đồng tâm nhất trí với lời lẻ của vị tông đồ dân ngoại trong thư      Rm 15, 15b – 21, nhất là câu: “Vinh dự của tôi là loan báo Tin Mừng ở những nơi người ta chưa được nghe nói tới danh Đức Ki-tô. Tôi làm thế vì không muốn xây dựng trên nền móng người khác đã đặt.”( Rm 15,20). Chúng tôi nhạy bén với ý tưởng này là vì ảnh hưởng của công đồng Vaticang II. Sau công đồng mọi cái bắt đầu thay đổi. Chúng tôi muốn đi tìm một lối tu khác, chúng tôi muốn đi tìm một khuôn mạo khác về Hội Thánh. Tên nhóm chúng tôi lúc ban đầu là “ NHÓM RA ĐI ”- ra đi khỏi một cơ cấu, một khuôn mẫu nào đó của đời tu, của Hội Thánh mà chúng tôi và mọi người thấy không còn phù hợp. Ra đi khỏi một thành đo nào đó. Thời đó người ta còn muốn ra đi khỏi cả một “ xã hội ” nào đó ( ý nghĩa cuộc nổi loạn của giới trẻ tượng trưng nơi cuộc nổi loạn của giới trẻ Pari 1968, của mùa xuân Praha…) Và còn phải ra đi khỏi chính mình, vì mình đã bị điều kiện hoá quá nhiều. Mình cũng đã trở thành sơ cứng dưới bao lớp vỏ bọc. Ra đi nhưng thực sự chưa biết ra đi vì đâu. Vậy là phải cùng nhau đi tìm. Ra đi tìm người. Ra đi tìm mình. Ra đi tìm Chúa. Tìm Chúa để tìm ra mình và tìm ra người. Theo Tin Mừng thì hình như có một địa chỉ, một đầu mối: người nghèo – người thiểu số.         Kỳ nghỉ tết năm 1969, tôi theo cha Tài trên chiếc ô tô “ hai ngựa” ( Deux Chevaux) từ Đà Lạt xuống Nha Trang qua trung tâm Chàm của cha Moussay, lên Ban Mê Thuột. Chúng tôi vào toà giám mục Ban Mê Thuột gặp Đức Cha Mai và ở lại đêm. Cha Tài trình bày với Đức Cha mục đích chuyến đi của chúng tôi: chia sẻ cuộc sống với một nhóm người thượng nào đó xin Đức Cha chỉ bảo. Nhưng Đức Cha tỏ vẻ không mặn mà lắm với anh em dòng Chúa Cứu Thế mà ngài cho là quá “ cấp tiến”. Ngài nói nếu muốn, chúng tôi có thể đến ở một nơi nào đó tại Phước Long. Mà Phước Long lúc đó đã là vùng oanh kích tự do ( free fire zone) và kể như đã là vùng của mặt trận giải phóng ( CS). Không có con đường bộ nào tới được Phước Long. Tất cả đều vận chuyển bằng máy bay trực thăng quân đội. Cha Tài là người đã bao phen trải qua cảnh hãi hùng của chiến tranh, cùng với dân làng bị kẹt giữa hai lằn đạn, cận kề cái chết, chứng kiến cảnh nhà cửa. làng mạc bốc cháy dưới bom lửa… Nhưng ngài cũng không thể chọn ngõ cụt Phước Long. Sau khi thăm một số bà con họ hàng gốc Vinh, ngài lại tiếp tục lái xe “ con cóc” theo đường 14 về hướng Plieku, còn cách Plieku khoảng 40km thì rẽ qua Cheo Reo- Phú Bổn.          Dường rất xấu, chỉ là đất đá, lồi lõm… và rất vắng vẻ. Vài chỗ phấp phới cờ của mặt trận giái phóng. Hồi hộp! Những kí ức chết chóc của cuộc tiến công tết Mậu Thân 1968 còn đó.          Tại Cheo Reo – Phú Bổn, chúng tôi gặp linh mục Vũ Văn Thiện. Là bạn cùng trang lứa với cha Tài. Cha Thiện vốn là linh mục dòng Chúa Cứu Thế đã chuyển qua làm linh mục giáo phận về làm việc với Đức Cha Kim ( Paul Seitz) là dưỡng phụ. Chúng tôi coi nhau như anh em. Cha Thiện vẫn ở trong cái nhà sàn do Cha Jacques Dournes dựng nên ở Bon Ama Djơng, Cheo Reo. Cha Thiện tuy mới ở vài năm với bà con Jrai tại Cheo Reo, nhưng đã nắm bắt được ngôn ngữ và văn hoá Jrai. Âu cũng là nhờ nhà nghiên cứu vĩ đại là lm Jacques Dournes mở đường khai lối. Thật ra, tại học viện, cha Nguyễn Thế Thuấn đã cho đọc ở nhà cơm cuốn DIEU AIME LES PAIENS của Jacques Dournes. Lúc đó đã có anh em học viện hỏi cha Thuấn: “ Cheo Reo có phải ở Châu Phi không cha?”, dĩ nhiên câu trả lời của cha Thuấn như thường lệ vẫn là: “ Dốt! Cheo Reo ở cao nguyên Việt Nam chứ đâu có phải ở Châu Phi! Dốt!”. Kể ra để cho thấy một là thời ấy Tây Nguyên còn rất xa lạ với thế hệ chúng tôi, hai là tiếng “ dốt” thường xuất hiện nơi cửa miệng Cha giáo Thuấn vừa làm chúng tôi bực mình, lại vừa khiến chúng tôi lao vào đèn sách hết mình. Chắc là để trả thù một cách vô vọng!           Tại Cheo Reo, khám phá lớn nhất của chúng tôi là Jacques Dournes, cửa ngõ cho chúng tôi bước vào rừng núi bao la bí hiểm và phong phú của Tây Nguyên. Học Jacques Dournes, dĩ nhiên không phải chỉ trong những ngày đầu ghé thăm Cheo Reo, nhưng còn thường xuyên trong suốt hơn 40 năm qua. Những ai đi truyền giáo thì không thể không đọc DIEU AIME LES PAIENS. Chính Ngài làm sáng tỏ điều mà gần nửa thế kỉ sau chúng ta gọi là rao giảng Tin Mừng có hội nhập văn hoá ( tuyên ngôn của Liên Hiệp Hội Đồng Á Châu 1999 – 2000). Trong cuốn sách nói trên, cha Jacques Dournes đã kể lại ngày đầu tiên cha đến Cheo Reo như thế nào.Giám Muc Paul Seitz đã chở cha bằng xe jeep tới làng Bon Ama Djơng vào một ngày trong năm 1955 , không nhà , không cửa , không người quen biết …Tới nhá nhem tối thì có một bà vị vọng trong làng ( Yă H’Lem, họ Rơcom) chịu cho Ngài vào nhà tạm trú qua đêm . Cái sự tạm trú ấy đã kéo dài cả chục năm. Ngay khi ngài làm một nhà sàn riêng như mọi nhà sàn Jrai thì nhà Yă H’Lem vẫn được coi là “ nhà “ của Ngài , và hai bên đã rất gắn bó với nhau , nhất là nhà Yă H’Lem lại là nhà phụ tá địa phương của “ Vua Lửa “ ( Pơtao Apui )- một cửa ngõ để ngài đi sâu hơn vào dân tộc Jrai . Tại nhà Yă H’Lem , Ngài đã bắt đầu học và tìm hiểu ngôn ngữ và phong tục tập quán Jrai . Ngài đã trồng thứ tương đối dể trồng là ớt . và cũng đóng khố , cởi trần ( Cheoreo rất nóng bức ) ngồi bán ớt ngoài chợ . Việc đóng khố không được Giám Mục tán thành lắm . Nhưng khi không có Giám mục ở đó thì Ngài vẩn đóng khố.Cho nên mới có một lần kia , đang khi thoải mái đóng khố , thì bổng anh đồ đệ Ama Sim hớt hải chạy vào báo động : “ Giám mục tới ! “Jacques Dournes vội xỏ quần , mặc áo ra đón Giám Mục.Ngài đi trước mời Giám mục lên thang vào nhà . Báo hại  Giám Mục đi đàng sau phát hiện ra cái đuôi khố vẩn lòi ra khỏi quần ! Giám mục bèn cầm lấy cái đuôi khố của Jacques Dournes giật giật mà rằng : “ cái gì thế nây ?”. Tuy tôn trọng Giám Mục, nhưng khi tranh luận thì không hề vị nể . Chính tôi đã nghe Giám Mục Paul Seitz nói :” Tôi đã bảo Jacques Dournes rằng : tớ thương cậu lắm, nhưng xin Chúa đừng để tớ phải sống với cậu quá ba ngày .!” Ấy là Giám mục Paul Seitz đã là người rất cởi mở và cập nhật . Nói thế để thấy rằng Jacques Dournes hoà đồng với dân như thế , nhưng lại là người khó quan hệ. Lý do chính theo tôi, đó là vì Jacques Dournes là người luôn luôn đặt lại mọi vấn đề, là người không để cho ai yên trong suy nghĩ cũng như trong nếp sống của mình. Chính Jacques Dournes đã luôn là vấn đề cho mọi người. Có một Giáo Hội nào đó , nhất là một Giáo Hội “ tiền Công Đồng “ nào đó , và cũng có một xã hội nào đó, đã trở thành “vấn đề” đối với Jacques Dournes. Chúng tôi nhận thấy Jacques Dournes cũng là con người muốn “thoát ly”,”ra đi” khỏi một” thành đô” nào đó, hay nói như Nguyễn Ngọc Lan, khỏi một pháo đài nào đó…Ở điểm nầy chúng tôi  cảm thấy Jacques Dournes là “đồng minh”, “đồng chí”, đồng loã…Dĩ nhiên chúng tôi tự cao, tự đại mà nói như thế , vì Jacques Dournes triệt để hơn chúng tôi rất nhiều. Đứng trước Jacques Dournes , cũng như đứng trước Nguyễn Thế Thuấn , chúng tôi chỉ là những học trò vừa “hèn” vừa “ngu”. Sở dĩ tôi ráp hai người lại với nhau ở đây là vì cả hai, về ngoại hình cũng như nội tâm, đều là những “dị nhân” !      Chúng tôi đã được trực tiếp với Jacques Dournes vào năm 1970 , khi trên bước đường nghiên cứu , ông dừng lại tại nhà chúng tôi ở Pleikly chừng một tuần . Sách của ông luôn luôn là sách “gối đầu giường” của chúng tôi như :            -Dieu aime les paiens ( Chúa yêu lương dân ): một loại Missiologie.          – Offrande des peuples  ( Hiến tế muôn dân )          – Bois bambou ,aspect végétal de l’univers Jơrai ( thảo mộc trong thế giới Jrai )          – Le Jơrai sans complexe ( ngữ học Jrai ).          – Coordonnées ( cơ cấu xã hội Jrai )          – Pơtao , une théorie du pouvoir chez les indochinois Jơrai. ( Một chủ thuyết về quyền bính nơi người Jrai).           -Forêt , Femme , Folie ( Một thử nghiệm phân tích xã hội theo phân khoa  tâm lý chiều sâu ) . . .        Tới tháng 08/1969, chúng tôi trở lại Cheoreo, có đầy đủ bốn anh em : Tài, Quân , Tín , Mầu . Chúng tôi được anh chị em Jrai Cheoreo, Cha Vũ Văn Thiện giúp làm quen bước đầu với ngôn ngữ và môi trường Jrai . Chúng tôi thường xuyên ở trong các làng Bon Ama Djơng , Bon Rưng , Plơi Pa… Plơi Pa Ơi Briu hồi đó bên đồi Cư Mô ( Núi Vợ- trên đỉnh có di tích Tháp Chàm) còn nguyên trạng một làng Jrai truyền thống : những hàng nhà sàn dài sắp hàng bên nhau theo hướng Bắc Nam , cột nhà bằng gỗ , vách sàn bằng tre le, mái lợp tranh rất dày ; không hề có mộng khớp, không hề có một cây đinh, tất cả đều cột bằng giây rừng, khéo léo , đẹp mắt, bền chặt. Trong làng không có một ngọn cỏ.Cây cối , vườn tược đều ở ngoài làng. Các sản phẩm nông nghiệp cũng để trong những kho vựa dựng tại nương, tại rẩy, không cần khoá , chẳng cần canh, vì không ai lấy của ai cả . Tôi nhớ hồi đó nước nôi đều đựng trong những quả bầu nút kín . Ban đêm chúng tôi ngủ không cần nằm mùng mà cũng không thấy có muỗi . Chúng tôi bắt đầu mê nhạc cồng chiêng và những điệu múa”yun-suang”trong các lễ hội, những bài ca dân dã ,những buổi kể chuyện “akhan” bên bếp lửa,những tiếng đàn “tơrưng” rộn rã haynhững tiếng đàn” gong”réo rắt của những chàng trai, giọng ai oán của tiếng đàn “ kơni” của người già ,âm thanh thì thầm thao thức của bộ khèn “ ding-dêk”của các bà các cô ..        Chúng tôi ở tại Cheoreo như thế từ thượng tuần tháng 08 đến tháng 10/1969. Chúng tôi liên hệ với Đức Cha Paul Seitz , Giám Mục Kontum. Đức Cha đón nhận chúng tôi ngay. Lúc đó chúng tôi không hề biết rằng từ năm 1953, Đức Cha đã viết thư kêu Dòng Chúa Cứu Thế lên làm việc tại Giáo Phận Kontum. Đến ngày 10/10/1969 , chính Đức Cha Seitz lái xe jeep đưa chúng tôi về Pleikly,cách Pleiku chừng 60km về phía Nam , theo đường 14. Cùng đi với chúng tôi có Cha Tôma Vũ Khắc Minh lúc đó là cha xứ La Sơn, kiêm Mỹ Thạch, Phú Quang , Phú Nhơn thuộc xã Pleikly hồi đó. Mỹ Thạch cách Phú Nhơn chừng 22km. Phú Quang cách Phú Nhơn chừng 7km. Ba nơi này có ba nhà thờ nhỏ cho giáo dân người kinh . Nhưng cả ba nhà thờ lúc đó đều bị chiến tranh tàn phá . Giáo dân phân tán còn khoảng 300 người tính cả ba nơi . Người Jrai chưa có ai theo đạo .                                      
Hạt Giống Kitô Trong Đất Jrai, phần 2 – Lm. Giuse Trần Sĩ Tín, DCCT  

 

10/10/1969 Đức Cha Paul Seitz đưa chúng tôi tới Pleikly vào khoảng 4giờ chiều ngày 10/10/1969. Đúng như đã hẹn trước, chúng tôi từ Cheoreo lên Pleiku sáng hôm đó. Và chiều hôm đó, chúng tôi theo xe Jeep do chính Đức Cha lái về Pleikly. Đại diện phía Giáo Phận còn có Cha Đaminh Vũ Khắc Minh, lúc đó làm Cha Sở La Sơn, kiêm Mỹ Thạch, Phú Quang, Phú Nhơn (lúc đó đều thuộc xã Pleikly). Vào thời điểm đó, số giáo dân Công Giáo ở cả 3 địa điểm đó có khoảng 300 người. Nhưng Đức Cha đổ chúng tôi xuống làng Pleikly (cách Pleiku gần 60km) là nơi chúng tôi chưa hề đặt chân tới bao giờ, và chúng tôi cũng không quen biết ai tại đó. Chúng tôi cũng chẳng có nơi trú ngụ. Đó chính là điều chúng tôi đã thỏa thuận với Đức Cha. Khi đến Pleikly, Đức Cha lấy sách Tân Ước đọc cho chúng tôi đoạn Tin Mừng theo Thánh Luca 10,1-12, Chúa sai 72 môn đệ và ngài nói: “Xin giao cho anh em tất cả vùng dân Jrai này. Bây giờ anh em có 4 người. Nhưng nếu Dòng Chúa Cứu Thế  gửi tới 72 người như trong bài Tin Mừng, chúng tôi cũng hoan hỉ đón nhận.” Sau đó Ngài cầu nguyện và chúc lành cho chúng tôi, rồi lên xe hướng về Pleiku cùng với Cha Minh. Mãi tới năm 2001, chúng tôi mới được biết tới lá thư mà chính Đức Cha Paul Seitz, Giám Mục Giáo Phận Kontum, gửi cho Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam  từ năm 1953, kêu gọi cho các Cha, các Thầy lên lập Nhà Dòng tại Giáo Phận Kontum và lo việc đào tạo những tông đồ giáo dân Kinh Thượng để phục vụ Tin Mừng giữa bà con người Thượng trong Giáo Phận Kontum. Lời kêu gọi này còn được lập lại năm 1956 (xin coi phần phụ lục). Con đường tìm kiếm của chúng tôi tưởng như vô định, thực ra đã được tiền định từ những năm đầu đời đệ tử  Dòng Chúa Cứu Thế của chúng tôi là như thế. NHỮNG NGÀY THÁNG ĐẦU TIÊN Ở PLEIKLY Khi Đức Cha đã lên xe ra về, chúng tôi đi tìm nhà tạm trú. Thực ra cái sân trường làng mà Đức Cha đổ chúng tôi xuống là thuộc phần đất làng Plei Kia chứ không phải làng Pleikly. Hai làng ở liền nhau chỉ cách có một con đường đất. Sau này chúng tôi được biết trước đây hai làng chỉ là một. Nhưng sau một vụ hỏa hoạn lớn thì tách làm hai. Sau nhiều lần di dời đây đó, bây giờ hai làng lại sát gần nhau. Vậy ngay phía tây sát sân trường, chúng tôi thấy có một căn nhà sàn dài rộng. Chúng tôi xin tá túc. Sau này chúng tôi biết đó là nhà của Amí H’Djhế (Mẹ của con H’Djhế: người Jrai lấy tên con đầu lòng mà gọi cha mẹ; trước tên con gái có chữ H’). Trong nhà lúc đó chỉ có một người lớn. Người này có vẻ thuận cho chúng tôi tá túc. Chúng tôi liền để mấy cái túi của chúng tôi vào một xó nhà, rồi hỏi thăm chỗ nào có nước để tắm rửa vì người chúng tôi đầy bụi đường. Người ta chỉ cho chúng tôi ra mãi giọt nước ở ngoài làng. Vào thời điểm đó trong làng chưa có giếng nước, chỉ có giọt nước. Đây là mạch nước ngầm, người ta xây xi măng hay đắp đất chặn lại, cho nước chảy qua ba bốn cái ống bằng kim loại hay bằng tre nứa, ở độ cao chừng một thước, và được gọi là “nước giọt” (ia ]ơnang). Bên Cheoreo, vì ở dưới thung lũng, rất ít thấy những “giọt nước” như thế vì dân cư phần lớn ở dọc theo hai con sông Ayun, Apa và các chi nhánh. Bên đó bà con lấy nước uống bằng cách bới những hố giữa những cồn cát trên sông, múc nước đã lọc qua cát rót vào quả bầu khô rồi gùi về nhà. Bên Pleikly này thì người ta hứng lấy nước trực tiếp nơi các “giọt nước”. Sau này dần dà trong làng có nhiều giếng nước hơn. Nhưng bà con Jrai nói: nước giếng không ngon bằng nước giọt. Sau khi tắm rửa xong, chúng tôi về tới nhà Amí H’Djhế thì thấy có một cành lá tươi giắt phía đầu cầu thang lên nhà. Kinh nghiệm những năm sống với người Kơho cho Cha Tài biết có “Wèr” (Jrai gọi là “kom”: kiêng kị). Và đúng như thế, người nhà cho chúng tôi biết: Vì trong nhà có người bệnh nên không thể cho khách đỗ nhà. Hư thực ra sao, không cần biết, cứ cuốn gói cái đã! Đi đâu bây giờ, tối rồi! Lúc đó có ông xã trưởng là Ama Tên (cha của cu Tên) tới (chắc là ông đã được nghe báo cáo và hỏi ý kiến). Ông chỉ cho chúng tôi căn phòng bỏ trống ở đầu nhà trường. Căn phòng này vốn dành cho thầy cô, nhưng không có thầy cô nào ở cả, nên đã bị đàn dê trong làng chiếm lĩnh. Vì là dê nên chúng không giữ vệ sinh gì ráo trọi. Chúng phóng uế đầy phòng! Mặc dù vậy hay chính vì vậy mà tối hôm đó chúng bị trục xuất ra khỏi căn phòng chuồng dê ấy để nhường chỗ cho chúng tôi. Chúng tôi vất vả lắm mới “trục xuất” hết cả “phế phẩm” của chúng nữa! Còn cái mùi tổng hợp của chúng thì chúng tôi đành chịu: phải chung sống với cái hương vị tổng hợp đó thôi! Sao mà giống Bêlem thế! Nhưng không có cỏ rơm để nằm! Làm sao đây? May quá có ông Cậy, người Công Giáo thôn Đôn Hòa gần đó, nghe nói hình như có Đức Cha và các Cha về Pleikly. Ông chạy tới lúc chúng tôi đang “xâm lược” chuồng dê. Nhờ ông chúng tôi có mấy tấm chiếu để nằm. Ông còn nài nỉ chúng tôi tạm qua đêm bên Đôn Hòa nhà ông, tốt hơn. Nhưng chúng tôi đâu có chịu. Ngày hôm sau ông cung cấp cho chúng tôi một chiếc giường đơn duy nhất. Chiếc giường này chúng tôi dành cho Cha Tài: kính lão đắc thọ!  Còn bọn trẻ, cứ trải chiếu nằm ngay trên sàn xi măng. Chính vì cái cảnh nằm ngay trên sàn xi măng nên mới lại có chuyện sau đây do chính Thầy Sáu Tín kể: “Hình như hai hay ba tuần sau khi chúng tôi dành được chỗ của bọn dê, tôi nhớ là trời hơi lạnh, vào buổi sáng hay buổi trưa gì đó, chúng tôi đang đắp mền ngủ nướng! Tôi tỉnh giấc vì cảm thấy dưới tấm mền đắp của tôi có cái gì đó động đậy, trườn trườn lên phía ngực tôi. Hình như là một con rắn! Và tôi nhớ rằng trong trường hợp như thế người ta căn dặn không được nhúc nhích, vì có thể làm cho con rắn giật mình mổ ẩu. Tôi nằm im. Một lúc sau, tôi thấy cái đầu của nó với cái lưỡi thậm thụt thò ra khỏi tấm mền phía vai trái của tôi. Đúng là rắn! Một con rắn to! Tôi càng nằm im, nín thở. Nó trườn ra ngoài, từ từ, nhẹ nhàng. Nhưng nó lại trườn qua phía anh Quân nằm bên trái tôi. Và cũng từ từ, nhẹ nhàng, nó chui vào chăn anh Quân! Khi nó đã khuất trong chăn anh Quân, tôi mới nhẹ nhàng ngồi dậy, nhẹ nhàng đặt tay lên trán anh Quân lay nhẹ. Anh Quân mở mắt nhìn tôi. Tôi ra dấu bảo anh nằm im rồi tôi nói: “Anh phải nghe tôi, tuyệt đối nghe tôi. Anh phải nằm im, không cụ cựa gì hết nghe chưa. Đợi đó…” Anh Quân hỏi: “Chi zậy ??? ” Tôi trả lời: “Anh phải nằm im tôi mới nói… Có con rắn trong mền anh đó…” Vừa nghe đến rắn, anh Quân bung mền nhẩy dựng! Con rắn lại trườn qua phía anh Mầu. Anh Mầu cũng nhẩy dựng! Con rắn trườn vào gầm giường anh Tài. Chúng tôi loay hoay tìm không ra cây gậy để đập nó, nên nó chuồn ra ngoài mất. Một phen hú vía HỌC VỚI DÂN Dần dà thì chúng tôi cũng bắt đầu có những người bạn Jrai. Họ là những em nhỏ đi học ở trường. Chúng tôi do học tiếng mà làm quen với các em. Sau đó là chúng tôi theo các em về nhà. Các em là những thầy cô dạy tiếng rất chính xác, rõ ràng; người lớn còn nể nang nhân nhượng, nhưng các em thì không. Sửa nhiều lần mà nói vẫn không đúng là phê bình liền: pơtó! mluk! (ngu! dốt!) (Điều này làm chúng tôi nhớ tới cha giáo Kinh Thánh Nguyễn Thế Thuấn của chúng tôi quá! Ngài cũng hay la chúng tôi như thế). Đã nói cho rồi mà cứ hỏi đi hỏi lại, liền bị phê: pluk! . . . Khó dịch ra tiếng Việt rồi!… Thành thử không luôn luôn cần một từ tiếng Việt tương đương. Cứ biết nó có nghĩa là: cử hỏi đi hỏi lại miết. Mà các em khi dạy tiếng như thế, các em lại không biết từ tương đương tiếng Việt. Nhiều người lớn cũng thế. Mà như thế mới đúng là học ngoại ngữ: đâu có cần dịch. Ấy là bước đầu học với dân. Học ăn, học nói, học gói, học làm… Học nói rồi khám phá ra văn, khám phá ra ý. Khám phá ra thể văn diễn tả ý… linh động trong cuộc sống của dân, chứ không phải trong một cái “viện” nào đó như thư viện, hàn lâm viện… Chúng tôi bắt đầu khám phá điều mà chúng tôi gọi là Đại Học Nhân Dân: học với Dân. Dân dạy cho chúng tôi ăn. Ban đầu, từ “chuồng dê”, chúng tôi thấy có nhiều người nam Jrai từ sáng sớm họ ra đồng mang về những con chuột và bẫy chuột. Hỏi ra thì biết rằng những bẫy chuột này dân Pleikly gọi là “đong” (tạm dịch là “bẫy ống”). Nó là một ống tre hay nứa một đầu kín một đầu hở, vừa cho con chuột chui vào. Sát phía đầu “kín” người ta khoét bằng đầu một con dao nhọn (thong) hai cái lỗ trên dưới để xuyên một cái cần cũng bằng tre dài khoảng 50cm, một đầu để cắm xuống đất, đầu trên có cột một sợi giây. Đầu sợi dây lại cột một que tre nhỏ, dài chừng 1m50, dùng để khi kéo uốn cần tre xuống thì gài vào được một cái nấc nào đó bên trong ống. Ở đáy ống có để một ít mồi: vài hạt gạo hay bắp. Người ta ghim bẫy trên đường chuột thường di chuyển ở ngoài rẫy hay ruộng. Khi chuột chui vào ống để ăn mồi, nó đụng phải que lẩy làm bật cái cần lên kéo sợi giây xiết vào cổ con chuột. Con chuột bị kẹt trong ống, không xoay xở được, và chết ngạt. Chúng tôi quan tâm tới những cái bẫy, vì chúng có hình dáng rất đẹp. Nhưng người dân Jrai, khi họ có những thứ ăn được, nhất là mồi săn bắt được là họ chia sẻ. Và khi chúng tôi tìm hiểu cái bẫy chuột của họ thì họ lại hỏi chúng tôi: “Gih =ong mơn tơkuih?” (các anh có ăn chuột không?). Dĩ nhiên là chúng tôi trả lời: “+ong mơn.” (Ăn chứ). Thế là họ cho chúng tôi hai ba con chuột luôn. “Samớ hyưm pơkra?” (nhưng mà làm cách nào đây?) Hai trong chúng tôi (Tín, Quân) là dân đồng quê, ăn chuột từ nhỏ. Nhưng người Kinh thường nấu nước nóng để làm lông chuột, thui, mổ, bỏ hết các bộ phận khác chỉ giữ lại tim gan. Còn người Jrai thui (]uh) và cạo tro lông ngay, sau đó vứt bỏ dạ dày và phần ruột già, còn giữ lại tất cả các bộ phận khác. Chúng tôi phải nhờ người Jrai làm món thịt chuột theo kiểu của họ cho chúng tôi ăn. Món chuột Jrai có thể nấu với mọi thứ rau, nhưng ngon nhất vẫn là với rau “te[-kơne”, với cà hay rau “tầu bay”, và gói lá vùi than (kop)… Cái món “lòng chuột” Jrai cũng hết xẩy (dĩ nhiên là đối với ai hợp khẩu!) Ngoài ra, tôi còn dùng chuột con đẻ trên cao (không đụng đất) để ngâm rượu đế làm thuốc chữa bệnh dịch hạch cho bà con Jrai, rất công hiệu. Người  Jrai còn dạy chúng tôi nấu và ăn  các món “a[am =lang” (lá mì: nhiều món ), “a[am hơboa” (đọt nõn khoai môn dại – không biết nấu là ngứa xé cổ luôn!), “a[am teng-leng” (một thứ lá đắng nhưng lại rất đậm đà khi được bóp với cá lóc nướng), “a[am hla hang bơnga pơneh” (lá và hoa đu đủ – có thể nấu loãng kèm bột gạo giã với “hla rơyao” – một loại lá làm ngọt và mềm thức ăn – hay nấu khô trộn với đậu phụng, bắp hay gạo rang – nếu có trộn với “wa]” thì cực kỳ, “wa]” là thứ nước đắng trong lòng non các loài ăn cỏ), “a[am bru]”, “a[am ser” (những món lá cây mà người Kinh không biết), “a[am abek” (dân Pleikly gọi “a[am bié ”, món nòng nọc – khi nấu nòng nọc tan ra được trộn với bột gạo hay bắp rang, trông sền sệt như bùn nhưng ăn rất bùi), món “ayưn” (ấu trùng chuồn chuồn) cũng tương tự, lại còn có món kiến vàng “hdôm-sao” nấu với cá làm canh chua ăn ngon và bổ, nhất là vào mùa kiến đẻ trứng và có ấu trùng… Trên đây là mới kể một số món ăn thông thường của người Jrai. Dĩ nhiên còn nhiều món ăn đặc sản thuộc loại cá và động vật được nấu nướng theo kiểu Jrai. Vấn đề cần lưu ý là việc thưởng thức những món ăn này làm cho khách và chủ gần gũi nhau, làm cho người lạ thành người thân quen, nhất là khi người lạ “ghiền” những món ăn đó. Những món ăn Jrai không hề thiếu chất dinh dưỡng như người ta nghĩ. Cũng như nhiều món ăn của người Việt, những món ăn Jrai bao gồm cả những dược liệu như ớt, riềng, sả, é… Việc nấu nướng đã là một nét văn hóa, và việc ăn uống cũng lại là một nét văn hóa nữa. Lúc ban đầu, dùng những món ăn Jrai làm chúng tôi gần họ hơn, hiểu họ hơn, học được nhiều hơn. Chí ít cũng biết được nhiều từ hơn. Như có một hôm thấy một em bé cầm một con dế, tôi liền hỏi em: “Hơgơt anun?” (Cái gì đó). Em trả lời: “Klir” (tôi biết đó là một con dế). Em nhỏ hỏi lại tôi: “Ih kiang =ong mơh?” (Anh có muốn ăn không?) Tôi ngạc nhiên trả lời “ư-ưh” không, vì tôi tưởng dế là để chơi thôi. Vả lại em có mỗi một con dế! Chúng ta biết rằng cào cào, chấu châu, dế, mối, thằn lằn, rắn, rết… là những thứ rất giàu chất đạm và rất bổ. Cử chỉ của em bé Jrai muốn chia sẻ cho tôi con dế của em: “Ih kiang =ong mơh?” Nếu tôi nói có, em sẽ cho tôi tức khắc và sẽ nhớ tôi mãi, cũng như tôi luôn nhớ em. Người Jrai khi săn bắt được thứ gì cũng đều sẵn sàng chia sớt cho nhau, cho dẫu lắm khi chỉ là một gói “kiến vàng”, một nhúm “lòng cá” (Jrai gọi là “eh akan”: cứt cá – một loại mắm ruột cá). Chưa nói khi săn được con mồi lớn như hươu, nai… Người Jrai gọi là “miếng to miếng nhỏ gì cũng nhớ tới nhau” (a[am net a[am prong át hodor nao rai mơn). Vì thế có câu “kơbao hơdip kơbao pô ta, kơbao djai kơbao plơi pla” (trâu sống là trâu của mình, trâu chết là trâu của cả làng). Lúc làm thịt một con trâu như vậy, nhà nào cũng đuợc một que xâu cả da cả thịt. Chưa kể đến những ai được mời tới ăn uống tại nhà. Miếng ăn tình nghĩa. Miếng ăn liên đới. Miếng ăn tạ ơn. Vì người cùng làng với nhau thì mang ơn nhau nhiều lắm. Làm gì, đi đâu cũng phải có nhau, cũng phải nhờ nhau. “Jé hơdah krah mlam giam mơnú tjó” (sớm hôm gà gáy, tối lửa tắt đèn) đều có nhau. Nhân nói tới miếng ăn nghĩa tình. Tôi lại nhớ một ngày kia, khi chúng tôi vẫn còn trú trong căn phòng “chuồng dê”â đó, có ông Ama Ker (Bố của thằng Ker) hớt ha hớt hải chạy tới và nói: “Xin các ông xuống nhà tôi ngay, thằng con tôi bệnh nặng sắp chết!” Không hiểu ông ấy coi chúng tôi là thứ người nào mà con sắp chết lại cầu cứu tới chúng tôi ? Dẫu sao thì Cha Tài,   Thầy Sáu Tín và Thầy Sáu Mầu cũng theo ông ấy về làng Plei Lao, cách chúng tôi gần 2 cây số. Chúng tôi chưa tới làng đó bao giờ. Như thế đủ biết sự có mặt của chúng tôi ở Pleikly đã được đồn thổi ra những làng chung quanh. Trước khi xuống Plei Lao, Cha Tài vẫn ghé qua trạm xá, kêu y tá Hộ, một người Công Giáo đi theo cho chắc ăn. Xuống đến làng Plei Lao, lên căn nhà sàn của Ama Ker, thấy cháu Ker, một bé trai khoảng 10 tuổi, đang nằm mê man trên giường. Anh Hộ bắt mạch, nghe tim, nghe phổi em. Sau đó anh lắc đầu và nói anh không dám tiêm thuốc hay làm gì cả vì tình trạng của em rất nguy kịch. Ông Ama Ker nói: “Anh cứ tiêm thuốc cho cháu. Có gì tôi chịu, tôi không bắt đền anh đâu!” Ông nài nỉ miết, nên anh Hộ cũng phải tiêm cho em. Trong khi đó, Cha Tài đã giơ tay cầu nguyện. Thấy thế chúng tôi cùng đặt tay cầu nguyện cho em. Cha Tài là người đầu tiên trong nhóm chúng hay cầu nguyện tự phát cho bất cứ ai xin. Chúng tôi mới mãn học viện, chúng tôi chưa quen cầu nguyện hồn nhiên như thế. Cháu Ker vẫn ngủ, nhưng nhịp tim, nhịp thở đều hơn và cơn sốt cũng không còn nữa. Một lúc sau chúng tôi ra về. Sau đó một hai tuần gì đó, 2 Thầy Sáu Tín, Mầu lại lang thang xuống Plei Lao để tìm hiểu và học tiếng. Chúng tôi tình cờ gặp lại Ama Ker. Ông nhất định đòi chúng tôi phải lên nhà ông chơi. Khi đã lên nhà, ông trãi chiếu mời chúng tôi ngồi, đem quả bầu đựng nước mời chúng tôi uống, chụm bếp lửa. Lúc đó trong nhà chỉ có một mình ông, những người khác đều đi làm ngoài nương đồng. Không thấy thằng Ker. Hỏi thì ông bảo nó đi chơi đâu đó. Như vậy là nó đã khoẻ. Vừa nói chuyện, ông vừa cột một ghè rượu nhỏ. Chúng tôi can không nổi. Tưởng chỉ có thế, nhưng ông đã xuống nhà, và chúng tôi nghe tiếng heo kêu eng éc. Một lúc sau ông lên lại nhà xách theo một con heo sữa đã bị ông đập chết! Ông thui nó làm lông, đặt lên một cái nia, mổ xẻ, nấu và nướng ngay trước mặt chúng tôi, không tốn một giọt nước. Chỉ có bộ lòng là phải rửa. Chúng tôi nói ông làm như thế chúng tôi áy náy quá! Ông nói ông muốn cám ơn chúng tôi vì đã giúp cho con ông được lành mạnh. Rượu ghè hôm đó ngon, lại uống kèm với thịt heo sữa nướng nữa thì “đậm đà khó quên”! Và dĩ nhiên là chúng tôi cũng không quên được những con người ấy, tiếng nói của họ, tâm tình và thái độ của họ. Đúng là miếng ăn tình nghĩa. Chúng tôi ở lại nhà đó mãi cho tới chiều tà mới ra về. Gia đình Ama Ker sau này theo Tin Lành. Còn cháu Ker sau này lớn lên trở thành một thợ săn thiện xạ, bách phát bách trúng LÀM DÂN VỚI DÂN Cứ  như thế chúng tôi vừa học ăn, vừa học nói, vừa học làm với dân. Đã bắt đầu bước vào mùa gặt lúa. Lúc đó dân còn trồng thứ lúa cũ dài ngày thân cao. Có mấy giống lúa ăn rất ngon và thơm cơm như “pơdai Gor”, “pơdai Lao”, nhất là ăn kèm với món “akan se, akan bloa[ kop” (cá lẻm, cá bống con trộn muối ớt gói lá vùi than) vốn sẵn trong mùa gặt,  thì nói theo kiểu Jrai là “wor-bit phung kơnung abih-=ihao” (quên hết họ hàng luôn)! Hồi đó nhiều người còn suốt lúa bằng tay, không cắt bằng liềm, vì sợ xúc phạm và làm đau cây lúa. Chúng tôi cũng đi suốt lúa bằng tay với họ: tưởng đau tay và ghê rợn lắm nhưng cũng không đến nỗi nào. Đi suốt lúa như thế, thì mình sẽ luôn có phần lúa của mình gùi về (bằng hay gần bằng một thùng thiếc). Chúng tôi cũng được trả công như thế, và không thể từ chối. Đã làm với nhau, không chỉ một mình mình có ăn mà cả những người trong nhà mình cũng có ăn. Rất tiếc nếu sự công bình không phải chỉ là công bình cá nhân này mất đi. Thực sự là nó đang mất đi theo lối trả công cá nhân chủ nghĩa của một xã hội “cân đo đong đếm” gọi là “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Dần dà thì người làng cũng nhận ra chúng tôi: không phải là nhân viên Nhà Nước kiểu cán bộ nông thôn hay sơn thôn như thường thấy thời đó. Họ gọi chúng tôi là “=ing Ơi Khop”. “Khop” hay “Đạo Khop” là từ người Jrai dùng để chỉ Đạo Công Giáo và từ “Khop” là tiếng Banar có nghĩa là “đọc kinh” – “Đạo đọc kinh”: đó là đặc điểm người thiểu số nói chung thấy nơi người Công Giáo Việt Nam! Chúng tôi xin họ đừng gọi chúng tôi là “Đạo Khop”, hay “Ơi Khop”. Chúng tôi là Công Giáo, “Đạo Ơi Adai” (Đạo Đức Chúa Trời) vậy thôi. Để sau này sẽ cùng nhau tìm xem nên gọi như thế nào, còn bây giờ cứ tạm như thế đã. Và bây giờ cứ gọi chúng tôi như gọi mọi người: đáng anh thì kêu anh, đáng em thì kêu em, đáng con thì kêu con, đáng cháu thì kêu cháu… Các ông bà già thường gọi chúng tôi là “tơ]ô” (cháu – của ông của bà – còn cháu cô cháu bác lại gọi là “amon”). Những người trẻ hơn thường gọi chúng tôi là “ayong” (anh). Vào thời này có một em bé gái đầu tiên xin theo Đạo: Kpă H’Dup. Em nhất định đòi mẹ sắm áo váy mới để em theo chúng tôi ngày Chúa Nhật qua bên thôn Đôn Hòa dự lễ với vài ba gia đình người Kinh. Chúng tôi cũng không từ chối em được. Nhưng hai mươi năm sau, mãi tới 1989 H’Dup mới được Thanh Tẩy cùng với chồng con. Tới tháng 12/1969, chúng tôi xin làng Pleikly cho chúng tôi một miếng đất ở trong làng, và cùng với dân làng dựng lên một căn nhà sàn bằng gỗ, lợp tôn, dài chừng 15m, rộng 5m. Và tới lễ Giáng Sinh năm đó, anh em chúng tôi cùng nhau lên ở căn nhà sàn đó, trả lại căn phòng của chúng tôi cho bầy dê. Trước đó mấy ngày có Cha Phán và mấy bạn Thanh Lao Công tới thăm chúng tôi. Từ hồi Cha Tài còn sống giữa người Kơho ở Koya thuộc Giáo điểm Phi Yang, Cha Phán đã chú tâm tới lối sống giữa những người dân tộc ít người, và đã có tới thăm Cha Tài như đi tìm một diệu cảm, mặc dù lúc đó Cha đang hoạt động  Thanh Lao Công. Vào đầu năm 1970, khoảng tháng 2 tháng 3, những vị khách xa đầu tiên tới Pleikly chúng tôi là Cha Giám Tỉnh H. Bạch Văn Lộc với Cha Tổng Quyền và Cha Tổng Quản Lý người Ấn Độ. Các ngài qua đêm trên căn nhà sàn của chúng tôi và xác định cho chúng tôi rằng chúng tôi đang đi đúng hướng. Ngày hôm sau, Cha Tài và Thầy Sáu Tín đưa các vị về lại Pleiku trên một chiếc xe Jeep. Gần đến núi Hàm Rồng (}ứ H’Drung) thì xe trục trặc chết máy. Loay hoay mãi, rồi Cha Giám Tỉnh, Cha Tổng Quyền, Cha Tổng Quản Lý cũng phải xuống xe cùng… đẩy. Năm thì bảy lượt, mệt bở hơi tai, xe vẫn không nổ máy. Lại loay hoay coi lại máy.  Cha Giảm Tỉnh H. Lộc lên cầm lái thay Cha Tài. Xe vẫn không nổ. Lại đẩy một đợt nữa. Cũng không có kết qủa. Có ai đó bỗng nhớ tới contact: hoá ra đẩy xe mà không mở contact xe! Khi mở contact xe lần này, xe nổ! Ai nấy thở phào. Khi lên xe, Cha Tổng Quyền bắt đền Cha Tổng Quản Lý và đòi Cha Tổng Quản Lý phải trả tiền phụ trội cho một ngày vất vả đó. Cha Giám Tỉnh H. Bạch Văn Lộc còn thăm đột xuất một lần khác trong năm 1970. Vì đột xuất nên anh em không có gì đặc biệt cho Ngài dùng bữa cả. Chính vì thế mà khi về Sài Gòn, ngài nói với anh em: “Tụi Pleikly nó ăn tầm bậy tầm bạ. Mình lên, tụi nó vơ đâu mấy thứ rau cỏ ngoài rừng cho mình ăn”! Thực ra hôm đó, tụi tôi hái vội mấy nắm rau “tàu bay” nấu canh ngon lắm chớ! Hồi đó chúng tôi thường thủ ít tôm khô: tôm khô bảo quản được lâu, nấu với rau gì cũng ngon ngọt hết! Thường là Thầy Sáu Tín lo bếp núc, bửa củi, gánh nước. Chúng tôi chưa có giếng riêng, nên chỉ có  Thầy Sáu Tín biết đi gánh nước bên giếng nhà bên cạnh (Nhà Amí Phin). Các anh khác không biết gánh nước trên vai. Người Jrai thì gùi nước trong những quả bầu khô. Như vậy mỗi lần được ít lắm. Dù sao thì mấy người đàn ông trong làng mỗi khi thấy Thầy Sáu Tín bửa củi hay gánh nước, họ cũng trêu: “+u djớ tah!” (không được rồi!) Không được là làm sao? Việc củi nước (djuh ia) là việc của đàn bà, anh làm như thế là không được, lấy vợ đi! Lần này thì đến lượt  Thầy Sáu Tín nói: “+u djớ tah!”. Dù sao chuyện bếp núc cũng được giải quyết một phần nào đó vào khoảng tháng 02 tháng 03/1970, không phải theo giải pháp của mấy người đàn ông trong làng, nhưng do một người đàn ông khác:   THẦY HILAIRE THẢO DCCT Thầy tự nguyện xin Bề Trên cho nhập Nhóm Pleikly. Một bất ngờ cho mọi người. Thầy đảm nhận bếp núc và làm vườn rau. Có thầy vườn rau bao giờ cũng sạch cỏ. Thầy hay làm bánh bao hấp trong thùng phi: bánh bao giã chiến! Với nhân nghèo nàn, không trứng gà, trứng cút hay mộc nhĩ: đậm đà mà dễ quên! Anh em gọi Thầy theo tên tu dòng là Hilaire. Còn dân làng, nhất là lũ trẻ gần gũi và thường được thưởng thức bánh bao của Thầy đều gọi Thầy là “Ayong Tơngil” (Anh Điếc) vì Thầy nặng tai bởi một thời phải nghe đại bác quá nhiều. Thầy còn bị thấp khớp. Chẳng ai trong chúng tôi biết Thầy bị thấp khớp nếu không có chuyện sau đây: Một hôm đi làm về, có cậu bé Chir lo lắng hỏi Thầy Sáu Tín: “Anh ơi, Anh Điếc làm bùa ngải gì đó em sợ lắm!” – “Tầm bậy, Anh Điếc mà bùa ngải gì! Anh ấy làm gì nào?” – “Anh ấy bảo em đái vào một cái lon, nấu sôi lên, đổ lên một hòn gạch nung nóng, rồi đạp cả hai chân lên – em sợ anh ấy làm bùa phép gì đó… hại em!” – Thầy Sáu Tín trấn an tụi nhỏ: “Đừng lo! Anh Điếc xông chân bằng nước tiểu kiểu đó chắc để chữa bệnh thấp khớp.” Hỏi ra thì đúng như thế thật. Nhưng “niệu liệu pháp” của Thầy hình như không hiệu nghiệm, vì trải qua mùa mưa năm đó bước vào mùa thu, bệnh thấp khớp gia tăng. Và Thầy Hilaire tự động rời Nhóm một cách âm thầm như khi Thầy đến. Chúng tôi nhờ ông già Năm tới lo việc bếp núc thay Thầy. Thầy rời Nhóm, nhưng lòng Thầy không xa Nhóm. Sau năm 1975, Thầy phục vụ ở Cần Giờ, gần biển có lợi cho việc điều trị bệnh thấp khớp. Vẫn cứ lủi thủi, áo quần xốc xếch và lấm láp, đầu đội cái mũ cối bằng nhựa không biết lượm được ở đâu và cả ngày đi dọn rác và đắp đường cho dân. Có một lần Thầy Sáu Tín đã tới Cần Giờ và chính mắt anh đã thấy Thầy như thế. Chính quyền xã phải phong Thầy là Anh Hùng Lao Động của xã, và Thầy được cấp tiền lương. Chẳng biết được bao nhiêu. Chỉ biết sau năm 1980, mỗi năm khi gặp Thầy, Thầy vẫn dúi cho anh em chúng tôi một hay hai trăm ngàn đồng “để làm việc tông đồ”! Thầy vẫn giữ cái tật dấu bệnh. Thầy bị sa ruột mà chẳng nói cho ai cả. Đến một hôm bị cảm sốt dai dẳng phải khám bác sĩ. Bác sĩ thấy ông cụ quấn chặt bụng bằng một cái khăn gì đó. Hỏi thì cụ bảo đau bụng, quấn như thế đỡ đau. Khám ra mới biết cụ sa ruột! Bảo cụ phải ngưng lao động ngay và chuẩn bị mổ thì cụ lại nói: “Không sao đâu, tôi chịu được mà, bấy lâu nay tôi cứ cột bụng mà vẫn làm việc được mà!” Bác sĩ đâu có chịu. Thầy Hilaire là thế đó. Năm 2000, bỗng các Thầy ghé thăm Pleikly. Bà con Jrai thấy Thầy Hilaire là ôm chầm lấy kêu to: Ơ Ayong Tơngil rai! Ơ Ayong Tơngil rai! (Ơâ! Anh Điếc đến. Ơâ! Anh Điếc đến.) Có những giọt nước mắt rơi. Chúng tôi nói: “Bây giờ Thầy già rồi, mời Thầy về lại Pleikly với điều kiện là không được làm việc nhiều và dĩ nhiên… không được dấu bệnh.” Ông cụ bảo: “Xin Cha Giám Tỉnh đi!” Tụi tôi có xin Cha Giám Tỉnh, nhưng đợi sau mùa mưa và mùa lạnh kẻo Thầy lại bị thấp khớp. Nhưng sau mùa mưa và mùa lạnh thì cụ lại bị đau bệnh khác, và vẫn vì thế, mà cụ không lên lại Pleikly, sợ thêm gánh nặng cho anh em   “NHÓM MỞ” (OPEN TEAM) Khi Thầy Hilaire rời Nhóm, không biết Cha Tài tìm đâu được Ông Năm, một ông già run tay run chân, tới lo việc bếp núc. Lại có Cô Chín, người Qui Nhơn, một lần nghe Cha Tài giảng, đã xin đi theo để phục vụ truyền giáo. Cha Tài đã có thói quen chiêu mộ giáo dân làm việc truyền giáo từ khi còn ở với người Kơho phía Phi Yang. Một trong những người thời đó là Cô Lệ, người Vĩnh Long. Cô đã đi học làm bác sĩ tại Đại Học Y Huế có ý trở về phục vụ cho bà con thiểu số. Nhưng sau 1975, vì thời cuộc và vì cha già cô không lên được Tây Nguyên. Cô sống độc thân và mở phòng khám bệnh cho bà con nghèo ở Trà Vinh. Sau cô Chín lại có anh Oánh từ  Sài Gòn xin gia nhập nhóm. Tại địa phương thì Cha Tài huy động được những giáo dân người Kinh tham gia vào những công việc vật chất như làm nhà, trồng trọt. Ngoài căn nhà sàn chúng tôi ở, Cha Tài còn huy động anh em Kinh Thượng làm một căn nhà “Rông” (sang rung) rất xinh (5m x 15m), tất cả bằng gỗ sao, mái lợp tôn. Ngôi nhà “Rông” này do anh em Bahnar Plei Thong A hướng dẫn và cùng thực hiện. Theo truyền thống xưa “sang rung” là nơi hội họp, cúng tế của dân làng. Xưa đó cũng là nơi các “dam rung” (trai tráng) ngủ tập trung ban đêm để kịp ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Nay phía Jrai Pleikly không còn thấy có “sang rung” nữa. Nhưng thanh thiếu niên vẫn có thói quen ban đêm chia nhau ngủ chung ở những nhà nào đó mà chúng thấy phù hợp. Bọn nam thanh thiếu niên ít khi ngủ tại nhà mình với cha mẹ. Căn Nhà Rông Cha Tài cho dựng lên được dùng làm Nhà Nguyện của chúng tôi. Việc tham gia của anh chị em giáo dân (có người ở trọn thời gian với Nhóm như Cô Chín từ Qui Nhơn, Anh Oánh từ Sài Gòn), có người bán thời gian (như ông Cậy, ông Cẩn tại Phú Nhơn, anh Bính, Anh Hồng từ Mỹ Thạch, anh Dung từ Pleiku…), làm cho chúng tôi có ý tưởng ao ước thiết lập một “Nhóm Mở” (open team) có thể bao gồm tu sĩ, linh mục của nhiều Hội Dòng khác nhau, anh chị em giáo dân nam nữ, thậm chí cả những người thuộc các tôn giáo khác, miễn là yêu mến và dấn thân phục vụ người thiểu số, mỗi người theo khả năng riêng của mình THẦY MARCÔ ĐÀN DCCT Thầy Hilaire rời Nhóm thì Thầy Marcô Đàn nhập Nhóm. Vào khoảng tháng 08/1970, Thầy Sáu Tín trong một lần về Sài Gòn có nghe Thầy Marcô học châm cứu và thi đậu xuất sắc. Vốn đã là y tá tây y, Thầy nghiên cứu thêm thuốc Nam. Thế là vào một bữa trưa ngồi gần Thầy, Thầy Sáu Tín rủ rê: “Thầy ơi lên Pleikly với tụi con đi. Trong Nhóm chẳng có anh nào chuyên về thuốc cả. Mà người Thượng lại cứ đến xin thuốc hằng ngày. Thầy biết châm cứu, Thầy lại biết cả thuốc Nam, thế là phù hợp quá rồi!” Thầy chỉ mỉm cười, chẳng ừ chẳng rằng. Thầy là thầy dạy sử địa cho Thầy Sáu Tín ở lớp 7è. Năm 1970 đó Thầy cũng 52-53 tuổi rồi. Còn Thầy Sáu Tín mới 29. Đâu có dám nói gì thêm. Lại biết rằng sức khoẻ của Thầy không được tốt lắm. Thế rồi bỗng nhiên vào tháng 10/1970, Thầy xuất hiện tại Pleikly. Lập tức Thầy có rất nhiều bệnh nhân, cả Kinh cả Thượng, cả lương cả giáo. Thầy chữa bệnh miễn phí. Con số bệnh nhân chứng tỏ khả năng của Thầy. Cả những người Kinh từ Pleiku, cách 60km, cũng lặn lội đến với Thầy. Xin đơn cử ra ba trường hợp chữa bệnh của Thầy. Siu H’Mi, lúc đó là một bé gái một hay dưới một tuổi, nhà ở ngay phía đông nhà chúng tôi. Bỗng một hôm từ  trong nhà có nhiều tiếng khóc la kiểu khóc người chết (]ok hia): đó là cha mẹ và bà con la khóc vì bé H’Mi nguy tử! Thầy Markô và anh em chúng tôi vội chạy qua. Bé H’Mi đang cơn co giật. Thầy Markô bắt mạch rồi rút kim châm cho em vài mũi. Em hết co giật, cơn sốt hạ dần. Đối với người Jrai thì đúng là chết sống lại. Mà nếu cứ để như thế thì thực sự bé H’Mi khó mà qua khỏi. Nay Siu H’Mi đã có gia đình, con cái đùm đề. Siu H’Kot, làng Plei Kia, lúc đó cũng là một cô bé khoảng 9-10 tuổi. Người nhà hớt hải tới cầu cứu Thầy Markô. Chúng tôi chạy theo Thầy qua làng Plei Kia. Lên nhà thì thấy Siu H’Kot sốt mê man lại chảy máu mũi, máu miệng: người Jrai rất sợ máu vào những trường hợp như thế này. Thầy Markô cũng bắt mạch và cũng một vài mũi kim vào những huyệt cần thiết (lần này chúng tôi thấy Thầy châm cả huyệt âm hộ). Hết chảy máu, hết sốt. Không biết có phải vì lần lâm bệnh này mà sau Siu H’Kot không có con? Siu H’Kot đã lấy anh rể theo tục “hdui nuêi”: khi người chị chết, chồng người chị có thể xin cưới cô em vợ. Sau 1975, chị của Siu H’Kot đi làm rẫy cuốc phải đầu đạn M79 và tử nạn. Người rể dòng họ Rmah xin tiếp tục làm rể dòng họ Siu. Hai bên cùng quí mến nhau. Thế là dòng họ Siu phải tìm cho anh một người vợ họ Siu. Không có ai thích hợp bằng Siu H’Kot, em ruột người quá cố, con của chị cũng được coi là con của em. Có những nơi gọi là “amí net, amí prong” (mẹ lớn mẹ nhỏ). Khác với vợ kế được con chồng gọi là “neh” (dì) chứ không gọi là “amí” (mẹ). Trong trường hợp mồ côi dù cha hay mẹ thì con cái luôn được bà hay chị em bên ngoại lãnh trách nhiệm dưỡng dục. Nhưng Siu H’Kot lúc đó mới có 13-14 tuổi. Anh Rmah bằng lòng chờ đợi hai ba năm sau mới làm lễ thành hôn. Nhưng sau đó thấy hai người không có con được với nhau. Kpă H’. . . , làng Pleikly, đã lấy chồng, nhưng trong một lần xích mích với chồng đã uống một thứ thuốc gì đó mà chỉ một số người Jrai nào đó biết, để khỏi sinh con cho người chồng đáng ghét! Nhưng có phải người ta đáng ghét mãi đâu! Rồi cũng đến lúc nguôi ngoai, lại thấy người ta đáng thương và dễ thương! Tới lúc đó muốn có con lại không biết thuốc chữa! Thế là phải chạy tới Thầy Markô. Thầy bảo khó đó. Nhưng để coi coi. Thầy châm cứu. Rồi cho uống một vài thứ  dược thảo nào đó mà cũng chỉ một mình Thầy biết. Năm sau, Kpă H’. . . cho ra đời một bé gái đặt tên Kpă H’{am. Năm sau nữa lại sinh thêm một bé gái đặt tên là Kpă H’Prin. Người Jrai rất quí con gái, vì con gái mới là con của mình (nó cho mình có con rể đến ở nhà mình, lại cho mình những đứa cháu mang dòng họ mình), còn con trai là con của người ta (khi lấy vợ là ở nhà vợ, con cái sinh ra đều mang họ nhà vợ). Nhưng khi gia đình Kpă H’. . . nhờ thuốc của Thầy Markô mà sinh được hai người con gái quí báu như thế thì Thầy Markô không còn ở lại Pleikly, không còn ở lại trên dương gian nữa! CÙNG LÀM KIẾP RUỒI MUỖI Giữa tháng ba 1971, Quân Đội Giải Phóng Miền Nam (tên gọi thời đó của Quân Cộng Sản) tiến công quận lỵ Phú Nhơn (cách làng Pleikly không đầy 1km). Trận đánh này là để “chia lửa” với trận Khe Sanh Nam Lào (Quân Mỹ và Quân Quốc Gia phối hợp đánh lớn ở Nam Lào nhằm cắt đứt đường Hồ Chí Minh, đường Trường Sơn vận chuyển Bắc Nam, nhưng họ thất bại lớn). Vùng Pleikly-Phú Nhơn cũng như nhiều vùng khác thời đó được gọi là vùng “xôi đậu” nghĩa là vùng Quân Quốc Gia tạm chiếm, nhưng Quân Cộng Sản vẫn trà trộn trong đó. Ban ngày Quốc Gia, ban đêm Cộng Sản. Ban ngày dân làng chúng tôi không dám xa làng 1km vào rừng, vì đã là vùng hoạt động của Quân Cộng Sản, và bởi đó đã là vùng oanh tạc tự do của Quân Quốc Gia! Đêm nào dân cũng nghe hai bên bắn nhau, oanh kích nhau. Đạn to đạn nhỏ cứ bay qua bay lại trên đầu dân, và thỉnh thoảng lại bay lạc vào chính người dân. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết oan! Nhưng giữa tháng ba 1971 là một trận đánh lớn. Như thường lệ dân chẳng biết gì. Dân làng Plei Kia có Lễ Hội “Bỏ Mả” (Pơthi Pơsat). Sau khi an táng, người Jrai có ba ngày “pot kuaí’” (người thân ra vun quén, sửa sang cho ngôi nhà mồ). Sau đó một tháng là “huă mơnơi” (qua lần “ăn” long trọng này, người chồng hay người vợ của người quá cố mới được phép “tắm”). Sau đó là “huă blan” (tháng tháng cả họ hàng thân thuộc đem rượu ra uống ngoài nhà mồ một ngày). Giữa đó là “huă lui asơi” (“ăn” lễ này để thôi không mang cơm hằng ngày ra nhà mồ cho người quá cố nữa). Sau một hai năm, “ăn” lễ đoạn tang (huă tlaih kơmai: người phối ngẫu được quyền lập gia đình mới). Rồi vào một năm nào đó, với sự đồng ý phối hợp giữa tất cả những gia đình cùng một dòng họ có thân nhân quá vãng cùng chôn trong một nhà mồ, họ tổ chức lễ “Bỏ Mả”. Từ nay thời gian vương vấn giữa người chết và người sống đã kết thúc: “lon pleh, deh pha, ia pơkon” (“đất đổi, quê xa, nước lạ” không còn gì chung chạ với nhau nữa). Đây là một Lễ Hội lớn qui tụ thân bằng quyến thuộc nội ngoại bạn bè khắp nơi. Người ta có thể làm thịt hằng chục, vài chục con trâu bò heo. Trước đó cả tháng, người ta kiếm cây, cắt tranh, đẽo gọt những “tượng nhà mồ”, làm mới và trang hoàng nhà mồ rực rỡ. Mọi người nô nức chuẩn bị. Tối nào Thầy Sáu Tín cũng theo đám cồng chiêng tập cho được. Anh đã đánh “}êng bet” (chiêng nhịp), đánh được “]êng ania” (chiêng trầm), bây giờ ráng học cho được “]êng asar” (chiêng đơn: chiêng đánh theo bài hát, mỗi một cái chiêng là một dấu nhạc, phải thuộc bài để đến nốt nhạc của mình là gõ, quên là hỏng cả bài, hỏng cả đám!). Thế là vào cái đêm 12/03/1971 đó, khai hội “Nhà Mồ” tại nghĩa trang làng Plei Kia. Họ hàng làng xóm xa gần kéo nhau về rất đông vui. Đây là dịp để trình diễn các bộ váy áo và khố thổ cẩm rất trang nhã và mỹ thuật. Không biết có bao nhiêu bộ chiêng được đem đến: những đoàn chiêng nổi tiếng lúc đó là: đoàn chiêng Plei Lao, đoàn chiêng Plei Djrêk, đoàn chiêng Bahnar của Plei Thong A, đoàn chiêng Plei Luh… Chắc chắn phải là những bộ chiêng có cung giọng hay nhất và mạnh nhất. Vì có lúc hai ba bộ chiêng cùng tấu, và mỗi bộ chiêng phải có cung giọng rõ đủ, mạnh đủ, vững đủ cho đoàn “suang” của làng mình nghe được mà múa phụ họa không lẫn lộn với các đoàn khác. Ngấm ngầm ở dưới có một sự thi đua xem ai hay hơn, đều hơn, đẹp hơn, nhịp nhàng hơn, mạnh mẽ hơn… Cho nên có thể xảy ra “đấu chiêng” (juă ]êng): có những đoàn cồng chiêng với đoàn múa phụ họa của mình “đã” quá, sau khi đi được mấy vòng “Nhà Mồ” rồi, không chịu rút ra nhường chỗ cho các đoàn khác, mà cứ mải mê “chơi” miết, ỷ vào chiêng mình mạnh, nên tới một lúc nào đó, do âm thanh cộng hưởng thế nào đó làm cho bộ chiêng yếu “bể” rạn nứt luôn (]ah ]êng), không xài được nữa. Nên lưu ý là chiêng bể do không chịu nổi âm thanh cộng hưởng hơn là do nghệ nhân gõ quá mạnh. Vì tiếng Jrai nói “tong ]êng” (vuốt, uốn nắn âm điệu cồng chiêng bằng cả hai tay cho nhặt khoan) chứ không nói là “taih ]êng” (đánh chiêng). Trong trường hợp này, cho dù anh thuộc bài, anh vẫn bị coi là “=u thâo”: “không biết”, không sành, thô. Cũng nên biết rằng trong bộ tộc Jrai chỉ có đàn ông con trai mới “tong têng”. Cứ như thế từ chập tối cho tới khuya, hết đoàn này đếùn đoàn nọ thay nhau “yun suang” (nhún múa). Có khi vòng trong vòng ngoài. Thường vòng trong dành cho người có tuổi. Vòng ngoài dành cho lớp trẻ. Vòng trong khoan thai hơn. Vòng ngoài mạnh mẽ và nhộn nhịp hơn. Vòng trong có thể có nhóm chỉ gồm các bà, các cô, váy áo chỉnh tề và đặc biệt, áo có gắn những tấm chì đúc mỏng (hnar) với những hoa văn tinh tế suốt cánh tay, lại có xâu chuỗi đủ màu gắn hai bên nách (a[ú), đầu mỗi xâu có cài những lục lặc hay những đồng xu nho nhỏ phát ra những âm thanh leng keng khi họ nhún nhảy. Nhóm này nhún nhảy theo một điệu cổ truyền phức tạp hơn, thường là với những kiểu chắp tay, buông tay, xoay trái, xoay phải, lắc mông nhè nhẹ, chậm rãi, nhịp nhàng theo điệu chiêng. Trong nhóm này không có đàn ông. Ông nào hứng khởi muốn tham gia thì múa tự do một mình (solo). Nhóm này cho thấy bản chất của “yun suang” Jrai không phải hướng ngoại như ta tưởng, nhưng là hướng nội vì nội dung của các bài cồng chiêng phần lớn là những bài gợi nhớ đến những kỷ niệm về những con người và những phong cảnh núi rừng sông suối buôn làng thân thương. Dĩ nhiên cũng có những bài cồng chiêng rộn ràng phấn chấn. Lại có cái nhóm “yun gor”: một trống cái, một người gõ nhưng lại  có tới bốn hay sáu người khiêng. Có thể là toàn đàn ông. Có thể là toàn đàn bà. Cũng có thể cả đàn ông, cả đàn bà. Vừa khiêng vừa nhún nhẩy, vừa hát hò. Một người xướng, mọi người đáp. Thường cái đám này nhộn nhất. Giữa những nhóm trung tâm này lại có thể có những hình nộm: những con người đeo mặt nạ kỳ dị, mình trùm một cái khung đan bằng tre le, phủ bông lau, lá chuối khô, giây leo hay rễ cây tượng trưng cho những “wôm”, “brâu” (lâm quái, sơn quái, thủy quái, tà ma…) Tất cả cứ nhún nhảy theo điệu cồng chiêng. Nhưng đêm đó, cuộc vui không được lâu. Giữa tiếng cười nói, hát ca, trống cồng, bỗng nổ ra chát chúa mọi thứ  tiếng súng lớn nhỏ. Tuy không phải tại đó, nhưng cũng rất gần. Việt Cộng tấn công Quận Phú Nhơn cách đó không đầy một cây số! Thầy Sáu Tín cố gắng lôi kéo đoàn chiêng của mình tiếp tục chơi để bà con khỏi hốt hoảng. Nhưng không có ai múa theo nữa! Đoàn chiêng cuối cùng đó đi không giáp được một vòng, rồi cũng chịu thua. Mọi người đều im lặng lo âu. Tiếng súng đã át tiếng chiêng. Cuối cùng chỉ còn tiếng súng. Mấy đống lửa cũng lụi dần vì không có ai tiếp củi. Thầy Sáu Tín vẫn chưa nhận định ra tình hình. Vì đã quá quen nghe những vụ nổ súng ban đêm nên anh cứ tưởng cũng lại đụng độ ban đêm, đến sáng đâu lại vào đó. Anh lững thững tiến về phía một đống củi và ngồi xuống một mình. Bỗng chị H’Gó làng Plei Kia tới lôi anh về phía đông người hơn đang trùm chăn làm bộ ngủ (theo kiểu đà điểu vùi đầu xuống cát như người ta nói). Có mấy người cũng lôi Thầy Sáu Tín nằm xuống, bắt trùm chăn và thì thầm bên tai: “Sum aban đih pit bé, arang bă =ơi anai ne!” (Nằm xuống, ngủ đi, “người ta” đầy ra ngay ở đây này!). “Người ta đầy ra” mà Thầy Sáu Tín có thấy ai đâu! Nằm một hồi bên cạnh anh Quân, anh Mầu cũng được dân làng bắt nằm trùm chăn, rồi anh cũng ngủ lúc nào không hay. Khi thức giấc thì trời đã tờ mờ sáng. Tiếng súng cũng êm. Biết mà! đánh đêm thôi, sáng là rút. Và Thầy Sáu Tín lại bắt đầu nói đùa cho vui: “A=aih, ta thi pơsat, =iă tra thi ta pô ih!” (Chèng ơi, mình bỏ mả, suýt bỏ mạng hé!) Anh rất lấy làm ngạc nhiên là mình chọc cười mà chung quanh chẳng có ai cười cả! Anh trông trước trông sau, bỗng bắt gặp một đôi chân mang đôi dép mà trong vùng “quốc gia” chẳng có ai mang cả: đôi dép “râu”, đôi dép “trường sơn”, đôi dép làm bằng vỏ và ruột xe! Bạn chỉ cần lấy vỏ xe phế thải, cắt cho vừa bàn chân, xâu thêm mấy cái lỗ, xỏ vào ba lát ruột xe cho vừa, thế là bạn đã có đôi dép rất bền, rất tiện, đường nào cũng đi được. Nhìn từ đôi dép ấy nhìn lên, Thầy Sáu Tín bắt gặp một khẩu súng mà không bao giờ lính “quốc gia” mang: khẩu B40! Và bây giờ  Thầy Sáu Tín mới hiểu: “người ta đầy ra đó”, và cũng hiểu không ai còn muốn đùa giỡn nữa. Từ lúc đó Thầy Sáu Tín cũng êm re luôn! Khi trời đã sáng hẳn có “lệnh”: ai về làng nấy. Thầy Sáu Tín rất muốn đi theo mấy người làng Plei Djrêk:  xa trung tâm Quận Phú Nhơn cũng là trung tâm cuộc chiến một tí cho nên phía đó ít nghe tiếng súng hơn. Nhưng ở nhà giữa làng Pleikly lại còn Thầy Markô đêm qua không biết ra sao. Thôi đi về theo người làng Pleikly. Nhưng vừa về tới ngõ phía tây làng đã gặp mấy anh bộ đội đứng phân chia: đàn ông qua bên phải – đàn bà qua bên trái. Qua ngả bên phải lại có bộ đội dẫn chúng tôi vào vườn chuối nhà ông Phó. Cuối cùng khi không còn ai tới nữa thì có tất cả trên ba mươi người đàn ông của hai làng láng giềng Pleikly và Plei Kia ngồi sát nhau thành một đám. Chung quanh có bộ đội cầm súng canh chừng. Một người đeo súng ngắn lên tiếng: “Ai trong anh em biết tiếng Kinh”? Không ai trả lời. Hỏi lần thứ hai, lần thứ ba cũng không ai trả lời. Hỏi lần thứ tư, không biết tại sao Thầy Sáu Tín giơ tay: “Tôi biết tiếng Kinh”! Người đeo súng ngắn nói: “Tốt! Vậy yêu cầu anh thông dịch ra tiếng dân tộc những điều tôi nói đây: 1. Quân đội cách mạng đến giải phóng Quận Phú Nhơn. Không phải đến đánh rồi đi. Nhưng là đến giải phóng và ở lại luôn. 2. Xin dân làng cho phép cắt giây kẽm hàng rào vườn các hộ để lấy lối đi cho bộ đội hành quân, và chặt chuối để làm công-sự. 3- Ai trong anh em là cảnh sát, lính bảo an, dân vệ hay cộng hòa hãy nộp súng cho cách mạng, sẽ được khoan hồng. Ai ngoan cố sẽ bị trừng trị”.  Thầy Sáu Tín lần lượt nói lại bằng tiếng Jrai. Có nhiều người trong đám họ hiểu rất rõ tiếng Kinh. Nhưng họ vẫn làm thinh. “Ai có súng ra trình diện”! Nhắc đi nhắc lại bốn năm lần: Họ vẫn bất động! – “Cách mạng đã biết rõ ai trong đám này có súng – hãy tự nguyện tự giác, sẽ được khoan hồng, bằng không…” Người đeo súng ngắn rút súng ngắn ra, nói tiếp: “. . . sẽ bắn từng người một”! Vẫn không ai nhúc nhích! Người đeo súng ngắn quay qua phía Thầy Sáu Tín ra lệnh: “Anh hãy chỉ cho tôi ai trong những người này có súng”! Thầy Sáu Tín ngỡ ngàng. Không thể chỉ bất cứ ai. Sau này làm sao còn có thể sống với dân làng với họ hàng của họ. Vả lại Thầy Sáu Tín thực sự không thể khẳng định ai trong đám người ngồi đó có súng? Có thể đã thấy ai đó mang súng. Nhưng làm sao có thể nói bây giờ, lúc này người đó còn giữ súng? Một lát sau Thầy Sáu Tín nói: “Tôi không phải là người Jrai. Tôi là người Kinh, là tu sĩ Công Giáo. Tôi mới tới ở đây được mấy tháng, không quan tâm nên không biết ai có súng hay không có súng…” Người đeo súng ngắn nói: “Anh không muốn cộng tác với cách mạng chứ làm gì anh không biết”! Thầy Sáu Tín chẳng còn biết ăn nói ra sao nữa. Bầu không khí trở nên nặng nề. Lúc này Ama Tên (cha của thằng Tên, lúc đó làm xã trưởng, và được dân chúng coi như “già làng”) mới lên tiếng bằng tiếng Jrai: “Tôi xin nói thế này: họ không chịu để cho mình yên đâu. Tôi đề nghị ai trong chúng ta có súng đồng loạt giơ tay. Nếu chúng ta không nộp súng, chắc chắn một người trong chúng ta sẽ phải nằm lại đây, có khi người đó lại chính là Thầy Sáu Tín! Vậy bây giờ tôi đếm một hai ba, ta giơ tay nghe!” Đa số gật đầu. Thế là những người có súng đồng loạt giơ tay! Họ được ghi tên và được bộ đội hay du kích dẫn đi lấy súng. Sau đó người mang súng ngắn quay về phía Thầy Sáu Tín hỏi: -    “Anh bảo anh là tu sĩ, sao anh không mặc áo tu ? -    Chúng tôi chỉ mặc áo tu khi cầu nguyện và dâng lễ trong nhà thờ… -    Nhà anh ở chỗ nào ? -    Ở giữa làng. -    Có hầm trú không ? – Có. -    Được rồi. Bây giờ anh hãy về nhà. Đừng đi lung tung, nguy hiểm. Nên trú trong hầm…” Thế là chúng tôi về căn nhà sàn của chúng tôi, vui mừng vì thấy Thầy Markô, ông Năm, cô Chín còn nguyên vẹn! Chúng tôi kể cho nhau nghe những nỗi lo âu của chúng tôi trong đêm vừa qua. Cha Tài và anh Oánh hôm qua có việc đi Pleiku. Chúng tôi cũng mừng vì hai người này không có ở đây. Nhưng chúng tôi cũng biết họ đang rất lo cho chúng tôi. Lúc đó có ông Nhu, một giáo dân, từ thôn Đôn Hòa, tới hỏi thăm chúng tôi. Thôn Đôn Hòa gần sát Quận Phú Nhơn (đơn thuần là một đồn bốt lớn). Ông Nhu kể cho chúng tôi trận đánh ác liệt đêm qua, những người bị thương, những người chết ở cả hai bên và trong dân. Ông nói lúc này không thấy bộ đội chung quanh quận và ở Đôn Hòa. “Bây giờ các cha, các thầy tính sao? Nhân lúc ban ngày yên ắng này, nên chạy qua Đôn Hoà, tìm cách vào trong quận, đợi trực thăng bốc về Pleiku?” Chúng tôi khuyên ông nên về Đôn Hòa với gia đình ngay đi. Bộ đội còn “đầy” ở trong làng này và các làng chung quanh. Họ nói còn đánh và ở lại lâu dài. Chạy về phía quận là nguy hiểm: một là vì đó là điểm họ nhắm tấn công, hai là vì chạy về phía quận là chạy về phía “Mỹ Ngụy”, sau này rất khó mà trụ lại được ở Pleikly. “Vả lại dân làng vẫn còn đó, chúng tôi ở lại với họ, sống cùng sống, chết cùng chết”. Và ông Nhu ra về một mình. Anh em tu sĩ bảo nhau mặc áo dòng. Và chúng tôi đã mặc áo dòng cả ngày lẫn đêm. Nếu có ai nghĩ đó là biện pháp an toàn thì sẽ lầm to vì mũi tên hòn đạn, và cả những con người bắn chúng không hề biết phân biệt như ta sẽ thấy sau này. Chúng tôi giới hạn ra khỏi nhà. Nhưng không biết tại sao chiều hôm ấy Thầy Sáu Tín lại ở ngoài nhà, giữa nhà ở và “nhà Rông”. Anh thấy từ phía Pleiku một chiếc trực thăng lớn loại Chinook đeo toòng teng một “gói” lớn dưới bụng. Nó bay về phía quận. Nhưng tới Pleikly liền có nhiều loạt súng của bộ đội bắn lên. Chiếc trực thăng vội thả gói đồ để chạy thoát thân. Thầy Sáu Tín thấy gói đồ bay về phía mình. Thay vì chạy ngược chiều, anh lại chạy xuôi theo gói đồ. Gói đồ ấy rơi cái rầm xuống cái bể có hòn non bộ ngay trước Nhà Rông, và cũng ngay trước mặt Thầy Sáu Tín. Nước bắn tung tóe! Thầy Sáu Tín sợ là xăng. Xăng mà bốc cháy thì hỏng hết! Nhưng may quá đó chỉ là nước từ hồ hắt vào anh. Anh chẳng còn muốn xem cái gói đồ kếch xù ấy là thứ gì, chỉ vội vàng chạy vào trong nhà! Nhưng chỉ một vài phút sau đã có một tiểu đội bộ đội đến kiểm tra cái gói đó. Nghe họ nói thì cái bọc đó gồm toàn là đạn, một loại đạn lớn của xe tăng. Họ không đụng tới cái bọc đó. Trước khi họ rút đi, họ đến bên cái xe Jeep loại phế thải mà chúng tôi đã mua lại với giá rẻ để dùng. Họ ném bộc phá vào ổ máy. Chiếc xe bốc cháy. Họ còn dắt cái xe Honda của chúng tôi, cho dựa vào chiếc xe Jeep, rồi bỏ đi. Chắc họ không muốn có ai dùng những chiếc xe đó để chở cái bọc đạn kia cho Mỹ. Thật là của nợ, rơi đâu không rơi, lại rơi đúng vào nhà chúng tôi! Đêm xuống. Lại đánh nhau. Súng lớn, súng nhỏ chát chúa, hỏa châu chập chờn, trực thăng gào thét, lồng lộn và khạc đạn… Đạn nhỏ rít, đạn lớn rú trên đầu chúng tôi, không biết nó bay đi đâu, nó rơi chỗ nào. Chúng tôi xuống chen chúc ngồi bó gối trong căn hầm chặt chội. Nắp hầm ngay trên sàn nhà: chỉ lật mấy tấm ván là nhào xuống hầm. Từ sàn nhà tới mặt đất chất hai ba lớp bao cát chung quanh miệng hố. Từ mặt đất đào xuống độ 1m50 nữa. Chúng tôi sáu người chen chúc nhau trong một diện tích khoảng 1m x 1m50 đó. Thỉnh thoảng lại có những toán bộ đội chạy qua, chạy lại. Hai ba lần có người nói: “Thủ trưởng, có hầm! B40 nhá?” Mỗi lần như vậy, tim chúng tôi lại thót lại! Chờ đợi… nhưng rồi, không thấy gì. Thật là hồi hộp. Chắc thủ trưởng của họ bảo thôi: trong làng dân tộc mà! Nhưng tới nửa đêm thì có hai chiếc trực thăng (dĩ nhiên là của Mỹ) hình như không hề biết đây là làng dân tộc! Hay nó biết, nhưng nó cũng biết trong làng có Việt Cộng nó bắt đầu xả rockets xuống làng. Bắt đầu từ dẫy nhà từ ngoài đường cái trước. Mỗi vòng là những loạt rockets lại nổ như sấm sét gần chúng tôi hơn. Chúng tôi phó thác linh hồn trong tay Chúa! Rồi tới dẫy có căn “nhà Rông” (Nhà Nguyện) của chúng tôi. Nó nổ tung trong ánh chớp lòa. Đất rung lên. Chúng tôi đinh tai nhức óc. Ván, tôn, đất cát văng lên, hắt tung tóe vào nhà chúng tôi đang trú ẩn. Căn Nhà Rông đó chỉ cách chỗ chúng tôi khoảng 4m. Chúng tôi còn sống và không ai hề hấn gì. Nhưng chúng tôi đợi loạt rockets tiếp theo! Và lần này nữa thì chúng tôi biết chúng tôi sẽ tan tành như căn Nhà Rông! Hai chiếc trực thăng lượn lại một vòng… không bắn! Chúng lượn lại một vòng nữa… cũng không bắn! Sau đó chúng bay đi về hướng Pleiku. Chúng tôi thở phào. Sau đó mọi sự trở lại im lặng khác thường. Chỉ còn tiếng gió rít trên mái Nhà Rông toang hoác làm cho những tấm tôn còn dính trên đó đập phành phành từng hồi nghe thê thảm! Chúng tôi vẫn còn ngồi trong hầm một hồi lâu, mình phủ đầy bụi đất. Sau đó, cuộc chiến như lắng xuống. Chỉ còn lác đác vài tiếng súng từ phía quận. Thường là như thế: những cuộc tàn sát chỉ diễn ra ban đêm. Chúng tôi leo lên sàn nhà, ai nấy tìm một chỗ để ngủ. Tất cả chúng tôi rất buồn ngủ. . . . . . Có lẽ là tới sau trưa, bỗng chúng tôi nghe một giọng đanh thép ra lệnh: “Tất cả những người trong nhà ra ngoài ngay”! Ra ngoài, chúng tôi thấy một tiểu đội bộ đội chĩa súng vào chúng tôi. Họ ra lệnh cho chúng tôi từ trên nhà sàn xuống đất. Một người trong bọn họ nói: “Các anh có máy điện đài gọi địch bắn pháo vào dân làng!” Chúng tôi nói chúng tôi không có loại máy nào như vậy cả. Họ nói: “Nếu lục soát thấy, các anh sẽ phải đền tội!” Và một số họ vào nhà lục soát. Một lúc sau họ tìm được một cái “radio” (mà phía bắc gọi là cái “đài”) và hai cái “cassettes” thời 60-70 chúng tôi mua để thu băng học tiếng Jrai, nhưng họ nói: “Đây là máy các anh dùng để gọi pháo địch bắn vào làng!” Họ nhất định coi mấy cái “micro” của máy “cassette” là những bộ phận để liên lạc với “địch”. Chúng tôi giải thích mấy họ cũng không chịu. Sau cùng họ chỉ vào Thầy Marcô: “Tên già ra đền tội”! Họ làm như bắn Thầy tới nơi! Nhưng lúc đó không biết từ đâu, đạn trọng pháo bắn tới. Tiếng hú và tiếng nổ rất gần chúng tôi. Đất hắt cả lên người chúng tôi. Có người bộ đội nói: “Thủ trưởng, ta đi thôi, ở đây không tiện!” Thế là tất cả bọn họ rút lui, mang theo radio và cassettes, và cả mấy thùng bánh mì khô của chúng tôi nữa. Chỉ còn lại anh em chúng tôi. Lúc đó Thầy Lêônard Q. hô: “Chạy”! Và với cả áo dòng, Thầy chạy biến luôn. Còn lại Thầy Marcô, Thầy Sáu Tín, Mầu, ông Năm, cô Chín bảo nhau đi về phía Plei Djrêk tránh xa quận là điểm giao tranh. Nhưng mới đi tới rìa phía đông làng Pleikly đã bị một tổ ba bộ đội canh giữ ở đó vẫy lại hỏi “Đi đâu?” Chúng tôi nói ý định của chúng tôi. Họ kéo chúng tôi vào căn hầm của họ và bảo: “Để đi hỏi ý kiến thủ trưởng đã”. Một lúc sau, người đi liên lạc trở về và nói: “Yêu cầu các anh đi gặp thủ trưởng”. Và anh ta dẫn chúng tôi trở lại vườn chuối của ông Phó ở rìa phía Tây làng, nơi chúng tôi đã gặp bộ đội ngày đầu tiên. Vừa tới nơi là họ trói giật cánh tay chúng tôi lại và nói: “Các anh gọi địch bắn vào dân làng, vào bộ đội, bây giờ định chạy trốn hả?” Họ lại đưa mấy cái “cassettes” ra. Lại giải thích một cách vô vọng. Chúng tôi bị trói như thế suốt cả buổi chiều. Nhưng chúng tôi không thấy hoàn toàn thất vọng, vì có lúc người cứ tạm gọi là thủ trưởng lại nói với mấy chú bộ đội: “Nếu có pháo hay máy bay địch tấn công, các đồng chí cho mấy người này trú vào hầm nghe”. Và vào khoảng bốn, năm giờ chiều họ cởi trói cho chúng tôi, và cho chúng tôi mỗi người ăn một khúc bánh tét. Khi trời đã tối hẳn bỗng có tiếng cảnh báo vừa đủ nghe, nhưng rõ ràng, dứt khoát: “Báo động! Xe tăng! B40 sẵn sàng!” Chúng tôi nghe có tiếng xe tăng rù rù ngoài đường cái. Hình như nó muốn bò vào làng Pleikly. Lúc đó họ lại trói tay chúng tôi ra sau lưng. Người chỉ huy rút súng ngắn cầm lăm le nơi tay. Tiếng xe tăng gần hơn. Ba loạt “aka” đanh thép vang lên, mỗi loạt ba viên thôi. Hình như đó là hiệu lệnh sẵn sàng. Anh Mầu ghé vào tai Thầy Sáu Tín nói nhỏ: “Nếu xe tăng tấn công, họ sẽ bắn tụi mình trước khi rút lui. Nếu họ bắn mà mình bị thương thì cũng giả đò chết nghe!” Thầy Sáu Tín mau mắn gật đầu. Nhưng sau đó nghĩ thầm: Bị trói giật cánh khuỷu, người cầm súng ngắn kia kê nòng súng vào thái dương của mình mà lảy cò, thì hỏi rằng còn bị thương ở chỗ nào được cơ chứ! Lại một lần nữa xin phó thác linh hồn trong tay Chúa! Hình như cảm thấy nguy hiểm, chiếc xe tăng rút lui. Hay nó chỉ dò đường? Người chỉ huy nhét súng ngắn vào bao. Chúng tôi vẫn bị trói. Dẫu sao chúng tôi cũng nhẹ nhõm hơn: điều anh Mầu nói chưa tới. Chúng tôi ngủ gà ngủ gật cho đến khoảng gần nửa đêm, người ta đến nói: “Bây giờ chúng tôi đưa các anh đi khỏi đây, tới chỗ an toàn hơn”. Họ choàng vào cổ Thầy Sáu Tín, anh Mầu, mỗi anh một khẩu “aka”. Họ không lo ngại gì, vì tay chúng tôi bị trói rất kỹ ra đằng sau lưng. Dù sao chúng tôi cũng biết được là hai khẩu súng này không có chủ. Chúng tôi thấy hai bộ đội khiêng võng xác một đồng đội quấn kín trong vải. Chắc còn một người nữa họ đã đưa đi rồi. Chúng tôi thinh lặng lần đi trong đêm tối. Đằng trước một vài người du kích dân tộc dẫn đường. Chỉ có họ mới biết con đường an toàn và chính xác. Đằng sau chúng tôi là vài anh bộ đội. Họ là người miền bắc và miền xuôi, không thể rành đường rừng bằng du kích dân tộc. Dần dần chúng tôi nghe tiếng súng ở lại phía sau lưng chúng tôi. Như vậy là chúng tôi đang đi về phía tây Pleikly – Phú Nhơn. Có lúc chúng tôi lại nghe tiếng súng xa xa phía tay trái chúng tôi. Như vậy là chúng tôi đang đi chếch theo hướng tây nam. Chúng tôi phải lội qua một con suối, chắc đây là suối Ia Hlôp, con suối lớn đầu tiên cách Pleikly chừng 5km. Mọi người làm theo bộ đội và du kích cởi dép cầm ở tay. Riêng Thầy Sáu Tín không chịu cởi dép nên tới chỗ nước sâu hơn đầu gối, bị nước cuốn đi một chiếc. Sau đó anh mới thấy chân có đi dép với chân không đi dép nó khác nhau thế nào nhất là ở chỗ đất sỏi đá. Cứ  đi 50 phút thì được nghỉ 10 phút. Mấy đêm mất ngủ, bây giờ chúng rất buồn ngủ. Khi được lệnh dừng chân nghỉ, ngồi xuống là chúng tôi ngủ liền. Gần sáng thì chúng tôi tới điểm tập kết. Đó là một con suối cạn, một căn hầm lộ thiên lý tưởng của tự nhiên, sâu tầm ngực, có chỗ sâu hơn, cũng quanh co qua lại, có tre le, cây cao bóng cả từ hai bên bờ bao phủ. Tại đây đã có nhiều người tới trước chúng tôi. Đa số là “tù binh người” dân tộc. Trong bọn  họ đa số có lẽ chỉ là “tình nghi” hay “lỡ” gặp Quân Giải Phóng mà bị giữ lại để bảo toàn cuộc hành quân. Chúng tôi nhận ra mấy người dân làng Pleikly và làng khác nữa. Tù binh thực thụ có lẽ chỉ có Nay-Jú Phó Quận Trưởng Phú Nhơn, hai người lính xe tăng, một phi công (do máy bay bị bắn hạ). Mấy người này mau chóng bị đem vào sâu hơn về phía tây (phía biên giới Cambod). Cũng tại nơi đây, chúng tôi gặp lại ông Năm, người nấu bếp cho chúng tôi. Từ lúc chúng tôi bị bắt, chúng tôi không thấy ông nữa, chúng tôi nghĩ là ông đã chạy trốn. Đúng là ông đã chạy trốn nhưng không thoát. Ông đã bị bắt và dẫn đến chỗ này trước chúng tôi. Tội nghiệp, ông đã già, lại có bệnh run tay run chân. Gặp chúng tôi, ông chỉ than phiền là khi lội qua con suối, nước cuốn trôi mất của ông một chiếc dép, bây giờ đi đau chân quá! Thầy Sáu Tín biếu luôn cho ông chiếc dép còn lại của mình vì anh nghĩ anh quen đi chân không rồi. Sau đó ông Năm không còn được gặp lại chúng tôi nữa. Ông đã được thả về lúc nào chúng tôi cũng không được rõ. Người ta giữ ông tới lúc này, chắc cũng để khai thác xem ông có thể cung cấp những điều gì đó liên quan đến chúng tôi. Tại con suối cạn này chúng tôi trải qua mỗi người một cuộc thẩm vấn riêng lẻ: Tên? Tuổi? Nghề nghiệp?… Bị bắt vì tội gì? Khi chúng tôi nói chúng tôi không có tội thì được trả lời: Đã bị bắt thì nhất định phải có tội, phải thành khẩn khai tội. Tại đây lần đầu tiên chúng tôi làm quen với việc khai “lý lịch”, một từ chúng tôi chưa hề nghe tới. Phải khai ra “tiểu sử” và những mối quan hệ của mình từ hồi nhỏ. Công việc này chúng tôi phải lập lại rất nhiều lần, không những trong những ngày tháng bị bắt giữ mà cả những năm tháng sau ngày “giải phóng”. Đây là chế độ lý lịch. Người ta dựa trên lý lịch mà phân loại bạn: ngụy quân, ngụy quyền, tôn giáo, dân tộc, tư bản, tư sản, có nợ máu hay không có nợ máu, giàu hay nghèo, bần nông hay phú nông, trí thức hay công nhân, có công hay có tội với Cách mạng… v.v và v.v… Mỗi loại lại còn phân ra nhiều thành phần. Và người ta cứ dựa vào loại và thành phần mà đối xử với bạn: được đi học hay không được đi học, được làm công nhân viên chức hay không được làm công nhân viên chức, được dạy học hay không được dạy học… Tính cách khắc nghiệt của việc phân biệt đối xử theo lý lịch với năm tháng có giảm, nhưng đó là vì tình thế bắt buộc chứ không có thay đổi theo não trạng hay nguyên tắc. Đến thời điểm cuối năm 2002, số phận của các giáo viên Công Giáo hay Tin Lành là rất bấp bênh, và chắc chắn là họ không được phép vừa đi dạy học vừa tham gia hướng dẫn các lớp giáo lý. Tuyệt đại đa số những người tham gia chế độ cũ hay thuộc thành phần tôn giáo (trừ khi họ không khai ra trong lý lịch) không bao giờ được giữ một chức vụ gì ở bất cứ cơ quan ban ngành nào. Ưu tiên số một vẫn dành cho đảng viên, bất chấp trình độ. ĐI BƯNG HỌC TẬP CẢI TẠO Qua một buổi sáng và một buổi chiều, đêm về chúng tôi ngủ như chết. Gần sáng nghe xôn xao: trong đêm có một người bỏ trốn. Đó là một người Bahnar thuộc làng Pleikly. Du kích, bộ đội, cán bộ tỏ vẻ tức giận ra mặt. Sau đó mọi người được lệnh chia thành những nhóm nhỏ và sẵn sàng lên đường! Bao giờ cũng vậy, khi có nguy cơ bị lộ là di chuyển. Không biết đi về đâu?! Riêng nhóm chúng tôi gồm Thầy Marcô, Cha Mầu, Thầy Sáu Tín, cô Chín và ông Cự (một chủ xưởng cưa ở Phú Nhơn) cùng với anh Tư và hai người nữa đều là công nhân của ông Cự, những người này bị bắt giữa rừng vì lỡ gặp bộ đội trên đường hành quân, cũng có thể để khai thác thêm thông tin. Chúng tôi vẫn cứ dò hỏi xem chúng tôi sẽ bị đưa đi đâu? Phía cán bộ người Kinh, không ai trả lời cho chúng tôi cả. Chỉ có một anh du kích Jrai cho biết: “Nao hrăm” – đi học. Đi học? Thế thì tốt quá! Có dịp đi học Chủ Nghĩa Xã Hội, Chủ Nghĩa Cộng Sản do chính những người cộng sản hướng dẫn, còn gì bằng! Trước lúc lên đường, riêng phía tu sĩ chúng tôi nhận được thêm một mảnh giấy: “Tạm giữ  để bảo vệ an ninh cho bộ đội Mặt Trận Giải Phóng đường 14”. Tạm giữ? Như vậy là sẽ có ngày được tha! Chỉ là tạm giữ để đi học! Nói theo kiểu Xã Hội Chủ Nghĩa: Phấn khởi quá! Sau này chúng tôi mới hiểu: học đây là “học tập cải tạo”! Miền nam thường gọi là đi tù. Nhưng trong Xã Hội Chủ Nghĩa không có nhà tù, chỉ có học tập cải tạo thôi! Sau này, hết tháng ba rồi qua tháng tư, hết tháng tư qua tháng năm mà cũng chẳng thấy được “học” lớp nào cả, hỏi anh cán bộ coi trại cải tạo (anh Hưởng) thì được anh giải thích: lao động là học đấy, lao động là cải tạo; cứ lao động đi là học tập cải tạo rồi đấy! Nghe thấy cũng có lý! Đến lượt nhóm chúng tôi xuất phát. Nhóm chúng tôi gồm tám tù nhân như trên đã nói. Có ba chú du kích Jrai dẫn đường và canh chừng. Dĩ nhiên là chúng tôi bước đi trong tư thế bị trói, vừa khổ vừa nhục. Nhưng làm sao họ có thể tin tưởng cho chân tay chúng tôi thong dong được! Chúng tôi đi suốt ngày như thế băng qua những cánh rừng lúc rậm lúc thưa của Tây Nguyên. Chân bước lúc trên đất, lúc trên sỏi đá, lúc trên những mũi nhọn cỏ “chông”. Tháng ba mùa khô Tây Nguyên, mọi cái đều khô cháy, mọi thứ  cỏ đều trở thành chông gai: phần thân ngọn bị lửa thiêu, chỉ còn trơ cái gốc tua tủa như bàn chông. Thầy Sáu Tín đi chân trần! Đi được một nửa ngày trong cái nắng như thiêu như đốt, bàn chân rát bỏng không sao đi được nữa! May quá còn cái đai lưng áo dòng. Anh lấy đai lưng áo dòng của anh, mượn thêm đai lưng áo dòng của cha Mầu, tìm vài sợi giây leo nhỏ mà chắc, cột thành đôi dép êm ái vô cùng trong lúc đó! Cám ơn Thánh Alphonso “thiết kế” cái kiểu áo dòng như thế: ngày xưa kiểu áo này cưỡi ngựa thoải mái, ngày nay ban ngày làm áo, ban đêm làm chăn, đai lưng làm dép được nữa! “Dép đai áo dòng nâng niu bàn chân… tù-sĩ”! Đi trong mùa khô Tây Nguyên còn có nạn khát nước. Mười một người chỉ trông vào có ba bi đông nước của ba anh du kích! Rất hạn chế và cũng rất là ngại không dám xin! Nhưng khi đến một điểm có nước hay gặp một con suối, thứ nhất phải qua suối đã, thứ hai phải chờ năm phút cho bớt mệt, ráo mồ hôi, thứ ba cởi trói, mới được uống nước. Vẫn biết như thế là khôn ngoan, nhưng năm phút ấy cũng vẫn dài như vô tận. Vẫn kiểu đi 50 phút nghỉ 10 phút. Không cởi  trói. Đến trưa các anh du kích phân phát cho mỗi người một nắm cơm vắt và một ít muối. Đó là tiêu chuẩn chung. Mấy anh du kích Jrai còn có tiêu chuẩn riêng, nói theo ngôn ngữ Xã Hội Chủ Nghĩa, do họ “cải thiện”. Đó là thịt nai khô. Họ cũng chia cho chúng tôi. Nhẩn nha nhai miếng cơm, đệm thêm miếng thịt khô nướng, chêm thêm hạt muối: thật là “đậm đà khó quên” – khó quên cả những con người chia sẻ cho chúng tôi những miếng khi đói đó, thật là bằng mấy gói khi no. Nói thế chứ, Thầy Marcô vẫn nuốt không trôi. Thầy chưa bao giờ đi những quãng đường dài như thế, lại đi trong đói khát, đi dưới mặt trời đổ lửa. Dẫu sao thì chúng tôi mới ba mươi và dưới ba mươi tuổi. Còn thầy đã quá năm mươi, lại không tập thể thao, lao động như tụi tôi. Chính vì sức khoẻ yếu mà hồi trẻ thầy không thể tiếp tục học lên cao được. Có điều thầy không một chút kêu ca. May mà hôm đó chúng tôi chỉ phải đi có một ngày. Chiều đến, chúng tôi tới trạm thứ nhất. Ở đây thấy có hai ba anh bộ đội người bắc và ba bốn du kích Jrai. Ba anh du kích đưa chúng tôi tới đây, ngày hôm sau chúng tôi không gặp lại họ nữa. Có lẽ phạm vi hoạt động của họ là tới chỗ này thôi. Nhóm bộ đội và du kích ở một chỗ trống, cây cối tự nhiên. Còn có hai chỗ khác vây kín bốn mặt bằng cây rừng to bằng bắp đùi, cao ba thước, chôn chặt sâu xuống đất, sát với nhau. Có thể tạm gọi đó là những cái “chuồng”. Một cái thấy nhốt tù Jrai. Cái còn lại nhốt nhóm chúng tôi. Mỗi cái “chuồng” như thế ngang rộng khoảng hai thước, dài khoảng bốn thước, lộ thiên. Vào trong “chuồng” rồi, chúng tôi được cởi trói. Tiếng Jrai gọi mấy cái chuồng như thế là “war”. Khi họ được thả về hay trốn về, họ đã cho Cha Tài biết là có gặp chúng bị nhốt trong “war”. Cha Tài lại hiểu rằng chúng tôi bị nhốt trong “cũi”, nên càng đau xót cho chúng tôi hơn. “War” cũng có nghĩa là cũi, là chuồng, mà cũng có nghĩa là “hàng rào”. Nghỉ một lúc, người ta cho chúng tôi đi cắt cỏ để trải nằm cho sạch hơn, êm hơn, ít trực tiếp với đất hơn. Họ cho chúng tôi tạm mượn mấy con dao hay lưỡi lê để cắt cỏ. Khi đi cắt cỏ, chúng tôi thấy chúng tôi ở gần một cái đìa khá rộng. Chúng tôi xin và được phép tắm. Thật là thoải mái. Thầy Marcô và cô Chín không tắm, chỉ rửa mặt và chân tay. Khi tắm, chúng tôi thấy trong đìa có rất nhiều cá, nhất là cá lóc. Chúng tôi nói với mấy anh du kích canh gác chúng tôi: tại sao không câu cá mà ăn? Họ bảo không có lưỡi câu. Chúng tôi bảo lấy kim băng mà uốn thành lưỡi câu. Có lẽ họ đã làm theo chúng tôi, vì hôm sau chúng tôi được ăn cháo cá lóc tươi. Chung quanh đìa chúng tôi thấy dầy đặc những dấu chân thú rừng: hươu nai, mang, hoẵng, heo, thỏ, hùm beo… Vì có hơi người nhiều nên bốn đêm chúng tôi ở tại đó, không thấy con thú nào bén mảng tới. Chúng tôi phải ở chỗ đó bốn đêm ba ngày vì mấy anh bộ đội đi lấy gạo ở một nơi nào đó bị lạc đường. Cả ngày thứ ba chúng tôi phải ăn cháo loãng, mỗi người chỉ có một bát. Cũng may là tối mịt hôm đó họ về được tới nơi. Và ngay sáng hôm sau, chúng tôi được lệnh lên đường đi tiếp. Trước khi lên đường có một chi tiết cần kể lại: anh bộ đội người Kinh trả lại cho Cha Mầu cây bút bi mà một anh du kích Jrai hỏi xin hôm trước. Anh bộ đội hỏi cặn kẽ có phải anh du kích kia đã tước đoạt của Cha Mầu không. Cha Mầu trả lời: “Không, anh ấy thích và ngỏ ý xin thì tôi cho.” – “Không được, cho không lấy, thấy không xin”. Đó là nét đẹp của bộ đội… cho đến ngày đất nước hoàn toàn “giải phóng”, thì cái nét đẹp ấy cũng bị “giải phóng” luôn. Khi lên đường, chúng tôi lại bị trói tay ra đằng sau! Lần này thì phải đi ba ngày liền. Đêm nghỉ. Không thoải mái chút nào. Và vì muốn thoải mái nên đêm đầu tiên suýt nữa Cha Mầu bị bắn. Đêm nằm đất, nằm bụi, mà hai tay vẫn bị trói ra đằng sau (trói ở khuỷu tay và ở cổ tay) thì rất khó chịu, ê ẩm, tê buốt. Đi mệt cả ngày, đêm lại không ngủ được! Cha Mầu vốn là một tay hướng đạo, nút hay gút gì cũng thuộc. Lại tưởng rằng ban đêm người ta không đi kiểm tra. Và có ý ngay lành là ban đêm cần được ngủ thoải mái, lấy sức ngày mai đi tiếp. Vì thế cho nên, táy máy, lần mò, gỡ hết giây trói và ngủ giấc ngủ của người công chính! Nửa đêm, một anh du kích Jrai rọi đèn pin đi kiểm tra từng người. Tới chỗ Cha Mầu, anh ta lẩm bẩm: “Quái hồi tối mình đã kiểm tra cột chặt, mà sao giờ bung ra hết thế này?!” Cha Mầu chắc cũng biết tình hình rồi, nhưng vẫn giả đò ngủ say. Anh du kích đá cho Cha Mầu một cái hỏi tại sao mà lại cởi trói ra hết vậy, bộ muốn trốn hả? Cha Mầu giọng ngái ngủ trả lòi bằng tiếng Jrai: “Tôi không biết, tôi có biết đường nào mà trốn. Có lẽ ban đêm tôi cựa quậy sao đó mà nó tuột ra đó.” Anh du kích nói: “Vô lý, làm sao mà tuột được! Mày có ý trốn, tao bắn bỏ!” Đó không phải là lời đe dọa suông, vì sau này chính mấy cán bộ người Kinh cho biết: “Các anh sống được là may vì các anh có thể chết vì bệnh, vì đạn của địch, hay vì mấy ông du kích dân tộc. Họ nói bắn là bắn. Có khi họ ngại đường xa mệt nhọc lại nguy hiểm, nên khi phải giải tù binh, họ bắn bỏ, rồi về báo cáo tù binh chạy trốn”. Đúng là may, đêm hôm đó, Cha Mầu không bị bắn bỏ! Rất có thể vì ông ấy nói tiếng Jrai, vì cái tiếng Kinh trong lỗ tai người Jrai thường là không dễ thương chút nào! Đơn giản là cứ không hiểu nhau là đã khó thương nhau rồi. Đến chiều ngày thứ hai của cuộc hành trình, khi ăn bữa tối, Thầy Marcô không chịu ăn nữa. Nói mấy, Thầy cũng không ăn. Cơm nóng. Nhưng chỉ ăn với muối. Mỗi người một bát đổ ra lá vì chúng tôi không có bát. Chỉ có mấy chú du kích có bát. Thầy đã quá mệt, khô cổ không nuốt nổi. Mấy chú du kích Jrai cũng thúc dục Thầy: “Ăn đi! Không ăn là chết đó!” Thầy vẫn lắc đầu. Có lẽ đã lâu lắm Thầy không đi bộ hai ngày liền giữa nắng nóng như mùa khô Tây Nguyên. Trong suốt cuộc hành trình, hầu như Thầy không nói, chỉ cố gắng đi cho kịp mọi người. TRONG CÙM Đến chiều ngày thứ ba, chúng tôi đi vào những khu rừng rậm rạp và có dân: đàn ông, đàn bà, trẻ em Jrai. Nhà của họ vẫn là nhà sàn nhỏ bé, núp dưới những lùm cây dầy đặc. Thấy những phụ nữ và trẻ em, không mang súng, tự nhiên thấy thanh bình, lòng người muốn ở lại. Nhưng chúng tôi không được ở lại, cũng không được nói với họ nữa. Gần tối, chúng tôi tới nơi chúng tôi phải tới: ba túp nhà tranh dưới vòm le cao dầy bên cạnh con suối cạn – một nơi ẩn núp tự nhiên. Sau khi làm thủ tục ghi tên tuổi… người ta đưa chúng tôi vào trong nhà, cởi trói, nhưng lại cùm chân chúng tôi lại! Cùm là hai thanh gỗ dài đẽo dẹp, dầy chừng 10cmx20cm mỗi thanh. Ở mỗi thanh lại có đục những nửa vòng tròn vừa cổ chân. Khi tù nhân đã đặt cổ chân vào thanh gỗ dưới, cố định, người ta khép thanh gỗ phía trên xuống, cũng có những nửa vòng tròn, chốt hai đầu: thế là hai chân tù nhân bị cùm lại, hết cựa quậy, chỉ ngồi lên hay ngả lưng trên một dàn tre le. Bữa tối đó có thay đổi. Vẫn mỗi người một bát cơm ăn với muối hột, nhưng là cơm độn củ sắn mì. Chúng tôi gặp lại anh Nay Jú, phó quận trưởng bị bắt ngay đêm lễ hội nhà mồ. Anh trúng đạn bị thương ở bàn tay trái. Anh chia cho chúng tôi ít lá mì luộc. Thầy Marcô vẫn không ăn. Chúng tôi xin người ta lấy phần cơm của Thầy nấu thành cháo, Thầy cũng không nuốt được. Giọng Thầy thều thào. Mệt vì đường xa, anh em rơi nhanh vào giấc ngủ. Quên Thầy Marcô. Mặc dù hai chân bị cùm. Thì cũng như những đêm trước ngủ trói! Sáng hôm sau thức dậy, thấy Thầy Marcô vẫn còn sống! Trong ngày Thầy đã nhấm nháp vài hạt cơm. Chúng tôi được ăn hai bữa một ngày. Vẫn là một bát cơm đầy trộn củ mì ăn với muối hột. Mỗi người nhận được phần muối của mình: mỗi người một tháng một lon muối hột. Đối với chúng tôi như vậy là dư. Nhưng đối với anh em Jrai lại là thiếu. Sau này chúng tôi quan sát thấy anh em Jrai không những ăn mặn hơn chúng tôi, mà họ còn ăn nhiều hơn chúng tôi. Mỗi khi rảnh rỗi họ đều có cái để ăn. Nhờ họ mà chúng tôi biết trong rừng có tới 12 thứ rau ăn được. Họ lại có tài làm bẫy. Mỗi khúc cây khô, mỗi tấm đá phẳng đều có thể biến thành bẫy bắt chuột hay sóc, thậm chí cả thỏ, cả chồn. Họ nâng khúc cây hay tấm đá lên, cài đặt thế nào đó, gài một miếng mồi (vài hạt gạo, vài hạt bắp, vài miếng củ mì nhỏ, một con dế hay một con cào cào châu chấu…) Thế nào cũng có một con chuột, một con sóc…  chui vào sập bẫy (bị cây gỗ hay phiến đá đè bẹp dí!) Thế là họ làm mắm hay làm khô để ăn dần. Mắm đây là mắm “bồ hóc” (tiếng Jrai gọi là “a[am phok”). Bây giờ thì tôi hiểu tại sao thứ mắm này lại có mùi hôi thối đến thế: thiếu muối. Từ xưa người Tây Nguyên đã thiếu muối. Muối theo tiêu chuẩn tù cũng không đủ. Cho nên “a[am phok” vẫn hôi thối kinh khủng. Ấy thế mà anh Mầu vẫn xin anh em chia cho thứ mắm ấy để nêm nếm với món lá mì hay món lá gì đó lượm được sau này. Thật là “đậm đà khó quên”! Tuy nhiên Thầy Marcô thì không tài nào thưởng thức nổi cái món “a[am phok” đó. Có một món khác đặc sản Tây Nguyên mà Thầy Marcô chưa quen. Đó là món lòng của các con vật ăn lá hay ăn cỏ. Không chỉ đơn thuần là lòng ruột mà còn là những “chất” ở trong lòng ruột. Anh em Jrai gọi thẳng là “eh” (phân). Số là những người canh tù (du kích hay bộ đội) họ có súng. Khi dẫn tù đi lao động hay khi băng rừng, thỉnh thoảng họ cũng bắn được khi thì heo rừng, khi thì bò rừng, khi thì vượn. Vượn bắn được nhiều hơn. Theo phong tục Tây Nguyên từ ngàn xưa thì những thứ săn được phải chia ít nhiều cho mọi người. Ăn một mình áy náy và mang tiếng lắm. Thế là tụi tôi bị cùm ở nhà vẫn được chia. Anh em Jrai hỏi tụi tôi: “Gih =ong eh [u mơh?” (các anh có ăn phân nó không?). Anh Mầu nhanh nhẩu trả lời liền: “+ong mơn” (ăn chứ). Thế là họ trộn các chất lỏng trong ruột non, thứ nước vắt được trong dạ dầy của con vượn, vào với xương thịt, làm thành một món hổ lốn loạn xà ngầu với mùi vị “đặc biệt” của lòng với ruột. Thầy Sáu Tín và Mầu thì hồ hởi phấn khởi lắm. Nhưng nhìn lại Thầy Marcô và Cô Chín thì không đụng đũa! Tội nghiệp, lâu lâu mới có thịt sống mà lại ăn không được! Những lần sau, chúng tôi phải “còm-măng” xin để món lòng ruột riêng ra (cho Thầy Sáu Tín, Mầu thưởng thức), xương thịt riêng ra (cho Thầy Marcô và cô Chín có thể ăn được). Trong trường hợp này chúng tôi phải tự nấu lấy. Người ta cũng hay cho chúng tôi một bàn tay của con vượn vì bàn tay có nhiều gân, xương, da lại dai, khó làm nên ít người muốn nhận. Vả lại nó rất giống bàn tay người. Nên nếu cứ phải loay hoay mân mê mãi cái bàn tay ấy, tới lúc nào đó cũng thấy ớn. Cuối tháng tư có những cơn mưa đầu mùa. Đó dịp đi bắt ếch nhái. Những người tù lâu năm không bị cùm ban ngày được theo du kích đi bắt ếch. Chúng tôi bị cùm ở nhà vẫn được ăn theo. Qua tháng năm sẽ có dịp đi hái nấm mối mọc rất nhiều trong rừng. Nhưng nấm mối chỉ mọc vào một thời điểm nào đó thôi. Khi đã mọc thì chỉ sau một ngày là nó thối. Ngoài nấm mối còn có nhiều thứ nấm khác ăn cũng rất ngon. Nhưng không nên hái nấm rừng nếu không biết rõ đó là nấm gì. Có lần Trần Sĩ Tín khi lượm về một mớ nấm nâu nâu nho nhỏ, cứ tưởng là loại nấm mà người Jrai gọi là “tơmâo phok”. Vì ham tìm nấm nên vắng mặt hơi lâu, vừa về là bị cán bộ kêu lên hỏi. Bỏ nấm đó lên trả lời chất vấn. Có mấy anh em tù nhân Kinh lấy nấm ấy ăn, thế là bị say mửa mật xanh mật vàng luôn. May mà không chết! TRẠI CẢI TẠO Thành phần trại bên người Kinh gồm bốn người Công Giáo chúng tôi, bốn người thợ rừng, hai người lính thiết giáp, có hai cậu trai khoảng 15-16 tuổi bị bắt chắc cũng để giữ bí mật cho Quân Đội Giải Phóng, vì các cậu nói bị bắt khi đang chăn bò. Bên phía anh em dân tộc có khoảng ba mươi người gồm những người có dính líu tới “ngụy quân ngụy quyền”, có cả những người làm việc cho Cách Mạng nhưng bị “kỷ luật” vì sai lỗi gì đó. Như trên đã nói: gọi là học tập chứ chỉ có lao động. Công việc chủ yếu là trồng sắn mì. Hằng rừng mì, đi tới đâu là trồng mì tới đó. Thứ cây dễ trồng. Cứ chặt khúc ra, vùi xuống đất là sống và cho củ, năm này qua năm khác. Lá non cũng ăn được. Nấu thật chín là hết độc, lại còn nhiều đạm hơn củ. Một thứ cây chiến lược. Một hậu cần bất tận cho Quân Giải Phóng. Trại cải tạo không cố định một chỗ. Chúng tôi có khi ở dưới chân núi. Có khi di chuyển lên núi hay bất cư địa điểm nào. Có báo động biệt kích là di chuyển. Biệt kích là những nhóm ba người do Mỹ thả dù (thường là ban đêm) vào những vùng nghi là có quân Giải Phóng. Những toán này được trang bị đầy đủ súng ống, máy móc, quần áo và lương thực: đều là những thứ tốt. Chính vì thế mà họ trở thành những con mồi mà du kích dân tộc rất thích săn lùng. Du kích dân tộc thuộc nằm lòng mọi ngõ ngách những cánh rừng quê hương. Chỉ cần một tổ ba người phục sẵn ở một gốc cây, hốc đá nào đó chờ dăm ba tên biệt kích trang bị mọi thứ máy móc, nhưng rừng núi đâu có phải quê hương của họ. Trước khi kịp phản ứng thì họ đã gục ngã. Tránh được bao cạm bẫy của người rừng thì đã gặp những lằn đạn của những tay súng thiện xạ… Có kịp gọi máy bay, thì máy bay cũng tới oanh kích một cánh rừng hoang không người. Bọn tù như chúng tôi cũng đã di tản rồi. Vậy biệt kích không nguy hiểm. Nguy hiểm hơn đó là máy bay oanh kích trộm ban đêm. Nó bỗng xuất hiện từ đâu đó, hễ thấy đốm lửa là thả ào xuống một quả bom. Nhưng mọi người đã cảnh giác. Ban đêm toàn dân, toàn quân chẳng chỗ nào đốt lửa. Vả lại, ai cũng thuộc lòng mấy câu: Đi không dấu, nấu không khói, nói không nghe. “Không” đây là không để lọt ra cho người ngoài. Nguy hiểm là máy bay trinh sát. Mấy “bà già” này, ban ngày cứ lượn như diều hâu. Phát hiện có người, ít thì nó bắn rocket, đông là nó gọi trực thăng hay oanh tạc cơ skyraiders. Nhưng chúng tôi được hướng dẫn: khi nghe nó đến từ xa, kịp ngồi xuống thì ngồi; lỡ đứng thì cứ đứng bất động. Trên nhìn xuống, “nó” không phân biệt được người với cây. Có lần, có anh du kích dẫn mấy người chúng đang đi ở chỗ không có cây to. Không hiểu sao, có một máy bay trinh sát bay tới mà không ai phát hiện tiếng động cơ từ xa. Nó bay qua chỗ chúng tôi. Rồi bỗng nhiên nó vòng lại. Anh du kích quát: Đứng im! Bản thân anh đã ngồi xuống. Anh tháo khẩu aka khỏi vai, lên đạn, chờ… Nó bay qua chúng tôi. Vòng lại. Rồi đi luôn. Hú hồn! Có một lần, chúng đi di tản về, cách địa điểm địa điểm quen ở khoảng vài trăm mét, bỗng có hai oanh tạc cơ tới bay lượn rồi oanh kích. Trước đó cán bộ đi theo chúng tôi đã bảo chúng tôi tìm chổ nằm xuống bên những cây đổ. Bom nổ rất gần. Anh cán bộ nói với Thầy Sáu Tín: “Nằm nghiêng, đừng nằm sấp, tức ngực chết đó!” Thả hết bom, chúng xả đạn. Sau đó chúng rút. Cứ từ 5 giờ chiều là các thứ máy bay trinh sát, trực thăng hay oanh tạc đều không hoạt động nữa. Có sĩ quan bộ đội còn nói, cứ 5 giờ chiều, bộ binh Mỹ cũng nghỉ hành quân, trừ khi họ bị tấn công. Mấy anh cán bộ cho biết nguy hiểm nhất vẫn là những thả bom trải thảm của máy bay B52. May trong mấy tháng ở tù, chúng tôi không phải gặp B52. Nhưng nghe nói lúc đó, cho dù có B52, các đơn vị vẫn được báo trước ít là 30 phút. TRA HỎI     Đã bị bắt, không sao tránh khỏi bị tra hỏi. Trong chiến tranh, ranh giới phân vùng chưa rõ ràng, vì vậy chúng tôi bị cả an ninh Đak Lak lẫn Gia Lai thẩm vấn. Trong thời gian thẩm vấn, chúng tôi bị cùm riêng ra mỗi người một nơi để không liên lạc bàn bạc hay thông báo được với nhau những gì mình đã nói. Trong thời gian này Thầy Sáu Tín bắt đầu có những biểu hiệu sốt rét. Cơm do một chú bé khoảng 14-15 tuổi cứ bữa đem đến. Thấy Trần Sĩ Tín ăn không được, chú bé lại lấy cơm ấy nấu thành cháo: nuốt cũng không nổi. Chú bé lại nấu cháo với mấy con nhái bắt được, càng khó nuốt vì tanh quá! Chú bé khuyên: phải ăn, không ăn là chết đó! Vì yếu mệt nên Trần Sĩ Tín trả lời thẩm vấn cách uể oải. Nội dung thẩm vấn bao giờ bắt đầu cũng là “lý lịch”. Trần Sĩ Tín sinh năm 1941, tại thôn Quang Xán, Huyện Mỹ Lộc, Tỉnh Nam Định. Từ 1941 đến 1951 sống với cha mẹ làm nông. Từ 1951 đến 1954, vào học ở Đệ Tử Viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội. Từ 1954 đến 1956, học tại Đệ Tử Viện Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Từ 1956 đến 1961 học tại Đệ Tử Viện Dòng Chúa Cứu Thế Vũng Tàu. Từ 1961 đến 1962, tu tập tại Dòng Chúa Cứu Thế Nha Trang. Từ 1962 đến 1969, học tại Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt, với các Lm Giáo Sư Nguyễn Thế Thuấn, Bùi Quang Diệm, Đinh Khắc Tiệu, Nguyễn Ngọc Lan… Từ 1969 sống tại Pleikly cho đến nay (1971). Bản thân là thế, còn gia đình? Bố làm gì? Làm nông, chết năm 1950 vì bom đạn. Mẹ và anh chị em hiện làm gì, ở đâu? Mẹ (Trần Thị Kế sinh 1919) và hai em gái (Trần Thị Mến sinh 1947 và Trần Thị Quý sinh 1950) hiện đang ở Sài Gòn đi làm thuê nấu bếp cho người ta. Và họ gán cho chúng tôi vào “thành phần dân nghèo thành phố”. Chúng tôi cũng bắt đầu hiểu rằng lý lịch cũng có mục đích phân biệt “thành phần”, phân biệt giai cấp. Sự phân biệt này còn rất gay gắt vào thời đó. Sau phần bản thân và gia đình, chúng tôi được hỏi về Nhà Dòng: Nguồn gốc? Tổ chức? Chủ trương đường lối? Sau đó là về Giáo Hội Công Giáo Miền Nam Việt Nam. Về phần này, Thầy Sáu Tín có vẻ không thuộc bài, vì không nhớ Miền Nam lúc đó có bao nhiêu Giáo Phận, tên các Giám Mục. Chỉ nhớ chủ trương của Giáo Hội Công Giáo Miền Nam Việt Nam theo tuyên ngôn Đại Hội các Giám Mục Á Châu họp tại Manila là: Giáo Hội là Giáo Hội của người nghèo. Còn về cái gọi là Nhóm Pleikly. Tại sao lại chọn Pleikly? Thưa vì Pleikly là một làng cố định lâu đời, không phải là một làng di cư như một số làng khác trong lúc chiến tranh và vì vậy cũng sẽ không di chuyển khi hòa bình; Pleikly là tên một làng, nhưng cũng là tên của một vùng gồm nhiều làng; Pleikly lại gần đường quốc lộ, tiện giao thông và cũng tương đối yên ổn trong thời chiến… Trừ nhà trong làng, các anh còn làm cái nhà gì ngoài đường quốc lộ? Câu hỏi này cho thấy họ biết khá rõ những hoạt động của chúng tôi. Ở gần đường quốc lộcó một mảnh đất dân cho chúng tôi.Cuối năm 1970, Cha Tài xin tiền Caritas của Giáo Phận làm một căn nhà gỗ lợp tôn rộng 6m dài 36m, tính làm nhà dạy nghề mộc, nghề may cho lớp trẻ Jrai, nhưng chưa hoàn thành. (Căn nhà đó từ năm 1973 sẽ được sửa lại làm nhà ở và nhà dự tòng cho tới ngày nay). Ai chủ trương cho các anh về Pleikly và sống tam cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân? Thầy Sáu Tín đã trả lời: Chúa Yêsu! Mấy anh cán bộ đã cười và không hỏi thêm. Đối với anh em trong nhóm, ai cũng thấy chính Chúa dẫn đưa chúng tôi vào nơi hoang vắng để ăn chay cầu nguyện, để được Ngài chất vấn trước khi đưa vào Sứ vụ. Thực ra cuối tháng ba, đầu tháng tư năm ấy, chúng tôi sống Tuần Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa trong cùm. Trong cùm Thầy Sáu Tín và Mầu cùng nhau hát những bài Tuần Thánh và những bài Phục Sinh còn nhớ được. Thầy Đàn và cô Chín không biết hát, chỉ nghe, trong cùm. Khi chúng tôi mới tới Pleikly, Chúa đã cho chúng tôi được ở trong chuồng dê, như Ngài đã ở trong chuồng bò. Bây giờ Ngài dẫn đưa chúng tôi vào cuộc tử nạn với Ngài. Nhưng người đáng được qua cái chết thực sự chỉ có Thầy Đàn. CHẾT TRONG TÙ Vào cuối tháng tư, Cha Mầu là người đầu tiên trong chúng tôi nếm mùi sốt rét “ác  tính”. Nó bắt đầu bằng một cơn “sốt”, nóng vô cùng, rồi tiếp đến cơn “rét”, lạnh vô cùng, lạnh từ trong lạnh ra, đắp mấy chăn cũng vô ích. Người ta bảo: vi trùng đột nhập vào hồng huyết cầu, rồi phá vỡ hồng huyết cầu. Bởi đó cho nên nước tiểu của bệnh nhân đỏ màu máu. Cơn sốt đầu tiên thường làm cho bệnh nhân mê man hai ba ngày. Sau đó dậy được hay không còn tùy từng người. Thầy Sáu Tín đã khóc vì tưởng Mầu chắc sẽ chết. Hai ba ngày mê man, không ăn không uống. Đại tiện tiểu tiện không biết luôn. Có lần thấy Mầu có biểu hiện muốn đi tiểu, Thầy Sáu Tín bế ra khỏi sập nằm, cởi quần, cho đi tiểu… Mầu mắt lờ đờ, chẳng nói chẳng rằng, chẳng đi tiểu gì cả, mặc dù Thầy Sáu Tín thúc giục. Thầy Sáu Tín mặc quần lại cho, rồi bế vào chỗ nằm. Mầu lại tì tì tiểu ra quần! Thế là lại phải thay quần và đem đi giặt. May mà trong những ngày Mầu hôn mê, cán bộ cho Mầu với Thầy Sáu Tín không bị cùm, ban ngày thôi, để có thể chăm sóc cho nhau. Cán bộ cũng cho mời y tá quân đội từ một địa điểm nào đó tới cho Mầu uống thuốc và chích thuốc. Anh y tá này đã tham gia trận Điện Biên Phủ. Đầu anh có một vết hõm: dấu vết bom đạn Điện Biên. Từ chỗ anh đóng quân đến trại cải tạo của chúng tôi, một mình anh đi mất ba ngày, vì lạc đường! Anh lấy phần tiêu chuẩn của anh mà cho anh Mầu một chút đường, và hai quả bứa mà anh hái được trên đường đi. Anh nói: “Sốt rét mà có chút chua, chút ngọt là đỡ lắm.” Anh có hỏi thêm về bệnh tình của anh Mầu. Nhưng anh Mầu không trả lời được. Thầy Sáu Tín xin mượn chiếc bút và cuốn sổ của anh và đưa cho anh Mầu rồi bảo: “Anh đau làm sao? Đau chỗ nào?… thì viết ra đây.” Thầy Sáu Tín nhét cây bút vào tay Mầu, nhưng Mầu không cầm nổi, và bút rớt khỏi tay. Người như mất hồn. Anh y tá rời chúng tôi. Chính lúc đó, Thầy Đàn ra đi. Thầy bị cùm ở một căn láng khác, cũng gần Thầy Sáu Tín với Mầu. Có lần nghe Thầy nói: nước tiểu của tôi đỏ quá! Như vậy là Thầy đã bị sốt rét ác tính. Thầy có vẻ càng ngày càng yếu đi. Hồi này không thấy Thầy đi châm cứu cho cán bộ. Khi khám xét những vật dụng của Thầy lúc vào trại, biết Thầy có nghề châm cứu, các cán bộ đã cho Thầy giữ lại hộp kim châm cứu và thường nhờ Thầy châm cứu khi gặp bệnh tật. 99% cán bộ, bộ đội ở trong rừng đều bị sốt rét. Thầy cũng châm cứu cho tù nhân nữa. Tù nhân Jrai không biết đến châm cứu. Nhưng có một anh tù Jrai, đêm nằm mơ thấy mình đang ở giữa một giòng suối nước sâu, có nguy cơ bị nước cuốn trôi, thì Thầy Đàn tới, giúp anh vượt qua đến bờ bên kia. Chính anh Jrai đó, mấy ngày sau, bị táo bón, đau đớn quằn quại tưởng chết luôn. Anh ta lại nằm ngay cạnh Thầy Đàn. Thầy Đàn nói: “không sao.” Rồi Thầy lấy kim châm cứu cho anh ta. Thầy nói: “Lấy lá để sẵn dưới chỗ anh nằm, vạch phên sàn ra, chỉ năm phút là anh sẽ đại tiện và khỏi.” Đúng như lời Thầy nói: anh được khỏi. Anh Jrai nói: “Nếu được về tới làng, anh sẽ giết heo làm lễ nhận Thầy làm bố ngay. Việc này đã được báo mộng rồi.” Nhưng anh chẳng có dịp nào để làm cái lễ kết nghĩa cha con ấy vì Thầy Đàn đã vĩnh viễn ra đi vào 00giờ 05 phút ngày 12/05/1971. Giữa đêm tối, có tiếng của người Jrai cùng bị cùm với Thầy Đàn hô to: “Ơi tha djai laih!” Ông già chết rồi! Người ta tháo cùm cho Thầy Sáu Tín được sang với Thầy. Thầy chỉ có chiếc áo dòng, Thầy Sáu Tín mặc vào cho Thầy. Thầy cũng khéo làm sao mà xin được một anh du kích Jrai một tấm chiếu đan băng lá dứa dại. Những anh du kích của các làng gần đó thường thay phiên nhau đến canh gác bọn tù chúng tôi. Trần Sĩ Tín cuốn xác Thầy vào chiếc chiếu ấy, rồi bức giây rừng cột chặt Thầy lại. Tới sáng, người ta phân công cho một số anh em Jrai cùng Thầy Sáu Tín đào hố chôn Thầy, rất gần với trại cải tạo, trên triền đồi. Thầy Sáu Tín nói với mấy anh em Jrai: “Vất vả anh em quá! Nhưng xin anh em thương giúp chúng tôi. Xin anh em đào hố cho sâu một chút.” Tôi nói thế vì thường Jrai đào mộ rất nông: quan tài của họ là cả một thân cây được đẽo, khoét và đậy nắp rất kỹ. Người ta kể có một người vào trong quan tài và bảo đậy nắp lại xem có kín hay không. Lúc đó có một con mang đi qua gần đó. Thế là mọi người ùa rượt đuổi con mang, lúc trở lại, mở nắp quan tài ra, thì người trong quan tài đã chết ngạt. Chứng tỏ quan tài được đậy nắp kín chừng nào. Khi chúng tôi đang đào huyệt tới quãng đầu gối thì cán bộ cho người tới gọi Thầy Sáu Tín. Anh em Jrai tiếp tục đào. Các cán bộ muốn găïp Thầy Sáu Tín để ký vào biên bản về cái chết của Thầy Đàn. Họ nói: “Anh đã thấy rõ ông Đàn chết vì bệnh sốt rét. Sau này khi về vùng địch, anh có nói: Ông Đàn chết vì bị chúng tôi ngược đãi là tùy anh…” Thầy Sáu Tín ký vào biên bản xác nhận Thầy Đàn chết vì sốt rét ác tính và nói: “Dĩ nhiên là tôi thấy sao thì nói vậy. Chúng tôi không hề bị tra tấn đánh đập. Chỉ có môi trường rừng là khắc nghiệt đối với mọi người: cán bộ, bộ đội, du kích và nhân dân…” Sau khi trao đổi chuyện trò khoảng nửa tiếng đồng hồ, Thầy Sáu Tín ra phía mộ Thầy Đàn thì thấy rằng anh em Jrai đã chôn Thầy rồi. Thầy Sáu Tín e rằng, anh em đào huyệt quá nông. Nhưng anh em thì cứ quả quyết rằng đã đào sâu. Lúc đó Thầy Sáu Tín chỉ còn biết cám ơn anh em đào huyệt, rồi lấy hai, ba cục đá to đặt lên mộ Thầy Đàn làm dấu cho mai sau.  Tuy nhiên đến năm 2000, chúng tôi nhờ anh em Jrai bốc được hài cốt Thầy Đàn về nguyên vẹn, nghĩa là không bị con vật nào (như nhím chẳng hạn) đào bới và hủy hoại, chứng tỏ huyệt đã được đào sâu. Đến tháng sáu, tới lượt Thầy Sáu Tín nếm mùi sốt rét ác tính. Lúc đó nhóm phạm nhân trại cải tạo đã được di chuyển xuống phía chân núi. Một hôm trong khi đang đi lao động trồng sắn mì, Thầy Sáu Tín lên cơn sốt rét, nằm phơi nắng trên một thân cây đổ, mong cho bớt rét. Sau đó Thầy Sáu Tín hoàn toàn đi vào hôn mê. Chiều đến anh em đã đưa Thầy về láng trại như thế nào, Thầy hoàn toàn không biết. Cho đến ba ngày sau, khi thấy đau nhói trên đầu ngón tay, Thầy mới tỉnh. Tỉnh rồi lại hôn mê. Lại thấy đau nhói ở đầu ngón tay. Hóa ra Cha Mầu đang châm “thập tuyền” cho Thầy Sáu Tín tỉnh lại. Khi đã tương đối tỉnh, Thầy Sáu Tín bắt đầu nói: “Thôi!” Nhưng Cha Mầu vẫn tiếp tục châm, đến nỗi Thầy Sáu Tín, đau quá, chửi thề luôn! Sau khi Thầy Marcô Đàn qua đời, Cha Mầu thừa hưởng gia tài là hộp kim châm cứu, và thường đi châm cứu cho các cán bộ. Các cán bộ có thuốc hút. Trong khi châm cứu, Cha Mầu cứ tự nhiên  lấy thuốc của cán bộ phì phà. Lúc ra về còn xin một điếu, và còn xin thêm một điếu cho “anh Tín”. Cha Mầu còn xin được cả chuối chín nữa. Nhưng về tới láng trại Cha Mầu lại nói: “Tín đừng ăn: người còn yếu, ăn bội thực…” Nhưng Tín thèm quá, cứ ăn, có mỗi một trái, bội thực gì mà bội thực! Nhưng mà bội thực thiệt: sình bụng, khó chịu lắm! Cha Mầu lại phải rang muối, pha nước cho uống. Uống mấy bát, vẫn không nôn mửa được! Lấy ngón tay móc họng, cũng không nôn mửa được! Thật là tham thực cực thân! Tín còn nằm mấy ngày nữa, không đứng dậy được. Người chỉ còn da bọc xương. Các cán bộ nói: “Anh phải tập đi nếu không sẽ bại luôn!” Thế là Tín tập bước đi. Ban đầu lần theo vách trong nhà mà bước. Sau đó ra ngoài, cứ từ cây này lần tới cây khác. Được một hai cây là đã phải nghỉ. Nhưng rồi cũng dần dần đi được khá xa. Ra tận đến bên bờ suối gần láng trại. Mùa nắng suối khô cạn là thế. Bây giờ giữa mùa mưa, tháng sáu, suối đầy nước và cũng đầy cá! Tín xin cán bộ cho giây cước và lưỡi câu. Chặt một cây le sẵn đó. Thế là hằng ngày cứ ra suối câu cá. Mỗi ngày được cả xâu! Cá lăn, cá trê, cá tràu, cá trắng… Ban đầu, Tín cũng đem biếu cán bộ, g?i là trả ơn cho cho cước và lưỡi câu. Nhưng cán bộ không nhận. Họ nói: họ cũng giăng lưới và cũng có cá ăn, anh cứ giữ lấy mà “cải thiện” trong lúc ốm đau. Và cứ như thế: canh cá lá “giang” cho tới khi được thả về. Nhưng trước khi ra về (khoảng giữa tháng 7), Cô Chín cũng còn phải trả nợ sốt rét cái đã. Nhờ Cha Mầu đi châm cứu cho cán bộ, nên xin được vài viên quinin cho Cô Chín. Cô Chín còn rên rỉ: “Con không uống được thuốc!”  Trời ơi! lúc này có thuốc là quí rồi, còn bày đặt không uống! Chúng tôi nói: “Nếu cô không uống, lúc người ta cho về, chúng tôi bỏ cô ở  đây luôn.” Sau đó cô uống lúc nào không hay. ĐƯỜNG VỀ Thượng tuần tháng 07/1971, người ta thông báo chính thức phóng thích chúng tôi. Người ta đã muốn phóng thích chúng tôi từ tháng 05, nhưng vì tình hình chiến sự và tình trạng sức khoẻ của chúng tôi nên phải đợi tới lúc này. Lúc này sức khoẻ của chúng tôi cũng không có gì khả quan lắm. Tất cả chúng tôi đã trở thành thân tàn ma dại, chỉ còn da bọc xương, sau những cơn sốt rét ác tính. Nếu khoẻ hơn, Trần Sĩ Tín đã có ý định ở lại, vẫn với cái ao ước ngây ngô là người ta sẽ cho mình làm công tác bình dân học vụ, vì trong bưng vẫn có những làng thượng ẩn núp dưới cây cao bóng cả. Nhưng thôi, xin từ giã anh chị em Jrai trong bưng, xin từ giã Thầy Đàn đã vĩnh viễn ở lại, chúng tôi hết sức rồi, chúng tôi xin ra về. Bữa tối trước ngày lên đường về, cán bộ đãi chúng tôi một bữa thịt chó, có rượu đế đàng hoàng (không biết các ông ấy tìm đâu ra). Các ông ấy từ giã chúng tôi, hẹn gặp lại trong ngày “đất nước hoàn toàn giải phóng. Việc phóng thích này chứng tỏ Cách Mạng muốn đoàn kết toàn dân chống Mỹ cứu nước, không phân biệt tôn giáo”. Các ông ấy khuyên chúng tôi không nên ở lại Pleikly-Phú Nhơn, hãy về Tòa Giám Mục hay về Nhà Dòng mà ở, vì sẽ có đánh lớn. “Chúng tôi hỏi: Thế dân ở đâu?” Họ trả lời: “Dân ở đâu, ở đó.” Và chúng tôi nói rằng: “Dân có cả ngàn người. Chúng tôi chỉ có vài mạng. Vậy dân ở đâu, chúng tôi cũng ở đó.” Sáng sớm hôm sau, chúng tôi bắt tay từ giã mọi người. Vẫn còn có anh em Jrai bị cầm giữ lại, có lẽ để làm phu trồng mì nhiều hơn. Bắt tay từ giã ông Nay Jú, phó quận trưởng Phú Nhơn, cũng trong tư thế ra đi, không phải đi về nhà như chúng tôi vì khi chúng tôi về được ít lâu thì nghe tin ông đã bị hành quyết. Có người nói vì ông chạy trốn nên bị bắn. Nhưng chúng tôi không tin như thế. Còn chúng tôi, người ta cho chúng tôi mỗi người một “ruột tượng” gạo, ít muối và chúng tôi lên đường. Chúng tôi gồm có nhóm Tín, Mầu, Cô Chín và nhóm anh Tư, ông Cự và hai người thợ rừng làm cho xưởng cưa ông Cự, và nhóm bộ đội 6 người, ba người đi trước, ba người đi sau chúng tôi. Họ căn dặn chúng tôi rất kỹ: đi mỗi người cách nhau bốn năm thước; khi gặp “địch”, cứ nằm im, không chạy lung tung, để bộ đội đối phó. Chiều ngày thứ nhất, chúng tôi dừng chân tìm chỗ nghỉ đêm gần một giòng suối. Ba anh bộ đội đi thăm dò chỗ qua suối xem động tĩnh ra sao. Sáng hôm sau, họ còn đi thăm dò một lần nữa rồi mới cho chúng tôi lên đường. Giòng suối khá rộng, khoảng 20m. Ba bộ đội, từng người một, qua suối trước, tìm chỗ phục. Khi có hiệu lệnh của người qua trước, người sau mới qua. Qua suối vẫn theo cách gói tất cả đồ đạc trong một tấm ni lông, túm lại, túi ni lông sẽ nổi, ta bám theo và bơi qua. Đến lượt chúng tôi cũng thế. Khi qua suối rồi, Trần Sĩ Tín mới thấy một bên chân như bị đau gân, không bước đi bình thường được, phải tìm một cành cây làm gậy chống. Chúng tôi cứ đi bằng rừng như thế trong ba ngày: leo đồi, lội suối, mệt mỏi, nhưng bình an vô sự. Có một chú bộ đội đến gần Trần Sĩ Tín, nói nhỏ: “Em cũng có Đạo. Trước khi vào Nam, Cha Xứ có cho em một mẫu ảnh.” Phần lớn các chú bộ đội còn rất trẻ. Chúng tôi đi mà không được trò chuyện. Đó là câu duy nhất mà bộ đội trao đổi. Đến trưa ngày thứ tư, nhóm anh Tư nói với mấy bộ đội: “Tới khu vực này là khu vực thợ rừng chúng tôi quen biết. Vậy xin các anh để chúng tôi đi một mình, các anh cứ đi theo công tác của các anh.” Chúng tôi không biết đường nên không đồng tình với ý kiến đó, muốn bộ đội đưa chúng tôi tới nơi luôn. Nhưng nhóm anh Tư nhéo tay chúng tôi, không cho chúng tôi nói. Bộ đội đồng ý với nhóm anh Tư. Họ trao giấy phóng thích cho chúng tôi, phòng khi gặp “cách mạng”. Bao nhiêu gạo còn lại, anh Tư bảo trao hết cho bộ đội, vì bộ đội mới cần, còn chúng tôi không cần nữa. Khi bộ đội đã rời xa chúng tôi, anh Tư mới giải thích rõ cho chúng tôi: “Chúng ta tới rất gần Plei Poê’. Không nên ở gần mấy ông bộ đội. Lỡ gặp lính quốc gia, hai bên mà đụng độ nhau là mình lãnh đủ!” Gọi là gần làng Plei Poế mà cả buổi chiều hôm đó, chúng tôi lết không tới nơi. Đêm đó chúng tôi phải ngủ lại trong rừng. Cũng hồi hộp, chỉ sợ có hành quân đêm. Sáng dậy chúng thở phào. Một lần nữa chúng tôi bỏ lại những gì có thể làm cho lính Quốc Gia nghi ngờ chúng tôi là Việt Cộng: mấy cái bát gò bằng xác máy bay, kể cả mấy đôi đũa… Mầu với Tín lại mặc áo dòng vào, để người ta có thể nhìn thấy từ xa. Vì biết rằng lính Quốc Gia hay gài mìn ở những lối đi gần làng nên chúng tôi đợi mặt trời lên khá cao, lúc người ta đã gỡ mìn rồi, chúng tôi mới dám lần theo con đường mòn dẫn ra đường cái (đường 14) gần làng Plei Poế. Chúng tôi ngồi chờ bên cạnh đường cái. Một lúc sau, có chiếc xe lam, thường vận chuyển giữa Phú Nhơn và nhóm làng chung quanh Plei Poế, đưa chúng tôi tới nhà ông bà Tạo bán quán ngay cạnh chợ Phú Nhơn. Ông bà Tạo vốn là gia đình phục vụ giáo xứ Phú Nhơn, ông bà vui mừng muốn “bồi dưỡng” cho chúng tôi, bù lại những ngày đói khát. Nhưng vì sợ bội thực, chúng tôi chỉ ở với họ một lúc và xin về nhà chúng tôi tại làng Pleikly. Nhóm Ông Cự, anh Tư cũng vội vàng về với gia đình. Cha Tài, Cha Phán đến đón chúng đưa về Pleikly. Dân làng bu lại đông đen thăm hỏi, làm cho chúng tôi phải lâu lắm mới đi tắm rửa được, vì chúng tôi đã hơn bốn tháng không biết đến xà bông. Quần áo của chúng tôi, chúng tôi căn dặn anh Oánh, một giáo dân thừa sai: “Xin anh nấu nước sôi luộc đã rồi hãy giặt, vì đầy rận trong đó đó!” Xin nói là một trong những cái thú giải trí trong trại cải tạo là bắt rận. Sau này hỏi lại anh Oánh: “Quần áo của chúng tôi đâu?” Anh Oánh bảo đốt sạch rồi! Chúng tôi ở lại Pleikly hai ba ngày. Sau đó anh em đưa chúng tôi lên Pleiku, đi máy bay về Sài Gòn. Về tới Nhà Dòng Sài Gòn, anh em cho chúng tôi lên xe đi ngay tới bệnh viện Thánh Tâm Hố Nai để khám nghiệm và điều trị bệnh sốt rét. Sở dĩ các Bề Trên cho chúng tôi điều trị gần như bí mật tại một nhà thương ngoài Sài Gòn là để ít người thân tới thăm, nhất là để cánh nhà báo khỏi quấy rầy. Các Thầy bệnh viện (dòng Gioan Thiên Chúa) cho chúng tôi uống chloroquine. Sau một tuần, người chúng tôi bồng bềnh như bay trên mây. Sau 10 ngày, xét nghiệm máu, không còn vi trùng sốt rét. Ngày 01/08/1971, lễ thánh Alphonso, chúng tôi hẹn nhau trở lại Pleikly bàn chuyện tương lai. Họp mặt kỳ này có Cha Tài, Thầy Quân, Cha Mầu, Phó Tế Trần Sĩ Tín. Có Cha Nguyễn Ngọc Lan đại diện Tỉnh Dòng. Anh em quyết định ở lại Pleikly tiếp tục sứ vụ. TẠM CHUYỂN QUA CHEOREO Ở Pleikly được vài ngày, Trần Sĩ Tín lại sốt rét. Về Sài Gòn xét nghiệm máu, phát hiện vi trùng sốt rét, Trần Sĩ Tín lại đi nằm nhà thương Hố Nai. Đến khoảng giữa tháng tám, tình cờ mở radio Sài Gòn, gặp tin: Khoảng 60km, phía nam Pleiku, có hai linh mục bị Viẹât Cộng bắt… Tìm đài VOA, BBC: cũng loan tin như thế. Nam Pleiku chỉ có Cha Tài và Cha Phán. Mở đài Giải Phóng: Họ nói đó là tin thất thiệt. Như vậy có nghĩa là Việt Cộng có bắt Cha Tài, nhưng họ không giam giữ. Và đúng như vậy, Việt Cộng đã bắt Cha Tài, Cha Phán đem đi một tuần rồi trả lại. Việt Cộng cũng ném bộc phá vào căn Nhà Nguyện nhỏ bé ghép bằng những gì còn lại từ cuộc chiến tháng 03/1971. Lúc đó có Chị Thân (Thanh Lao Công) trong Nhà Nguyện. Không biết làm sao mà chị chỉ bị thương ở bàn tay. Anh Oánh trong lúc lộn xộn đã lẻn qua nhà bên cạnh và không bị bắt. Từ biến cố này, không còn ai ở lại Pleikly. Anh chị em giáo dân thừa sai, ai về nhà nấy. Nhóm Dòng Chúa Cứu Thế Pleikly tạm chuyển qua Cheoreo.

 

Hạt Giống Kitô Trong Đất Jrai, phần 3 – Lm. Giuse Trần Sĩ Tín, DCCT 
ĐỊNH HƯỚNG CỦA NHÓM – NHÓM SỨ ĐỒ PLEI KLY (Trích Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tháng 08/1972) L.T.S … Tháng ba năm 1971, nhân cuộc đánh chiếm quận Phú Nhơn, Pleiku, bộ đội của “Mặt Trận Giải Phóng” đã bắt giữ nhóm Sứ Đồ Dòng Chúa Cứu Thế đang hoạt động truyền giáo cho sắc tộc Jrai tại ấp Pleikly, sát quận lỵ Phú Nhơn, gồm Linh mục Nguyễn Đức Mầu, Thầy Phó tế Trần Sĩ Tín, Thầy Marcô Đàn và chị trợ tá truyền giáo Nguyễn Thị Chín cùng với chừng 70 anh em người Kinh và Thượng khác trong quận. Thầy Lêônard Quân chạy thoát được ngay trước đêm xảy ra chiến cuộc, Linh Mục Vương Đình Tài, trưởng nhóm và anh Đỗ Đức Oánh, trợ tá truyền giáo phải đi Pleiku có việc nên được thoát nạn. Thầy Marcô Đàn vì thân già sức yếu, không chịu nổi rừng thiêng nước độc, đã chết trong bưng vì bệnh sốt rét cấp tính sau gần hai tháng giam giữ. Cha Mầu, Thầy Tín, chị Chín, sau bốn tháng sống tại một trại cải tạo, đã được trở lại tự do thân tàn ma dại, không phải vì người, nhưng vì rừng núi ngược đãi. Hạ tuần tháng tám năm 1972, tức là một tháng rưỡi sau ngày ba người truyền giáo Mầu, Tín, Chín được trả tự do, Linh mục Vương Đình Tài, trưởng nhóm và Linh mục Nguyễn Văn Phán, mới lên tăng cường sau, cũng lại bị bắt vào bưng một lần nữa. Sau sáu ngày giam giữ hai linh mục cũng được trả tự do, nhưng chiếc nhà nguyện tí hon bằng tôn và mái nhà bếp lẹp xẹp mà họ đang ở lâu nay đã bị bộ đội giải phóng đặt plastic và bắn B40 thiêu rụi. Trong lúc chờ đợi tình hình an ninh và chính trị tạm ổn định hơn, nhóm hiện tạm trú tại hai tỉnh lỵ Phú Bổn và Pleiku, hợp tác với nhóm giáo dân Jrai lo việc dịch thuật Phụng Vụ và Kinh Thánh ra tiếng Jrai. Nhân cuộc ghé thăm Phú Bổn, chúng tôi đã phỏng vấn nhóm về những cố gắng và quan niệm truyền giáo của họ để cống hiến quý vị đọc giả ĐMHCG chứng từ một cố gắng tìm kiếm đường lối truyền giáo. ĐMHCG: Xin quý cha quý thầy cho biết tại sao nhóm đã lên Pleikly truyền giáo cho sắc tộc Jrai? Pt. TÍN: lấy quyển Tân Ước chậm rãi đọc tôi nghe đoạn thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma 15,20: “Như một danh dự, tôi chiû giảng Tin Mừng ở đâu Danh Đức Kitô chưa đội đến”. Rồi anh tiếp: “Có thể nói đó là ý tưởng đã liên kết chúng tôi lại và đẩy chúng tôi ra đi theo “lệnh lên đường”. Tất cả anh em lên đây đều là dân tình nguyện… đi theo một tiếng gọi cụ thể. Đó là một cố gắng sống đạo của chúng tôi, thúc bách bởi “một sự khẩn thiết giáng xuống trên chúng tôi” (1 Cr 9,16). Lâu nay Dòng Chúa Cứu Thế chúng tôi vẫn muốn theo ý hướng đó khi đặt chủ đích của Dòng là đến cùng những người bị bỏ rơi hơn cả. Và qua trung gian của Đức Cha Paul Seitz, giám mục Kontum, ý hướng đó đã dẫn chúng tôi tới Pleikly, một địa danh mà người Jrai nào cũng biết. Pleikly có thể nói là một vị trí trung tâm của “đất nước” Jrai: phía Bắc có Pleiku, Tây Bắc có Plei Kơbey thuộc tỉnh Kontum, Plei Djit, Plei Me, phía Tây có núi Chư Prong – người Kinh mình thường gọi là Chư Prong —, Nam có +on Som, +on Blek, Ban Mê Thuột, Đông có Cheoreo, Ia Sol v.v… Pleikly lại nằm sát quốc lộ 14 trục lộ liên lạc với các nơi khác, Pleikly còn là một làng cũ không bị xáo trộn hay thay đổi như các ấp tập trung… ĐMHCG: Nhưng tại sao các cha lại chọn người Jrai? Lm. TÀI: so với các sắc tộc khác, sắc tộc Jrai có dân số đông nhất và quan trọng hơn cả (150.000 trong số khoảng 800.000 người Thượng tại miền Nam Việt Nam) và cũng là sắc tộc ít được biết Tin Mừng nhất. Kơho là một sắc tộc khoảng chỉ hơn 80.000 mà có gần 20 linh mục và 60 tu sĩ nam nữ đặc trách truyền giáo cho họ với những phương tiện và cơ sở thật đầy đủ. Bahnar, dân số chừng 85.000, đã được Hội Thánh đến truyền giáo hơn 100 năm nay; hiện có nhiều họ đạo khá sầm uất, một trường đào tạo thầy giảng và có cả linh mục Bahnar… Năm 1969, khi chúng tôi đến với người Jrai, chỉ có một linh mục ở Cheoreo, nói được tiếng Jrai và hoàn toàn lo rao giảng cho người Jrai. Không kể Cha Bình ở Plei Kơbey và họ đạo của ngài. Tổng số người Jrai biết Chúa chỉ vào khoảng 100 người trên 150.000. À, còn phải kể vài trăm “đạo cũ” khác ở Plei Djit và Tiên Sơn được các cố Pháp đến truyền giáo từ đầu thế kỷ rồi bỏ dở và từ mấy chục năm nay không có linh mục thông thạo phong tục và tiếng nói Jrai coi sóc họ… ĐMHCG: Xin các cha cho biết nhóm đã đến “cắm lều trại” tại đất Pleikly như thế nào? Lm. MẦU: Ngày 10 tháng 10 năm 1969, cùng với giám mục Kontum, chúng tôi tới Pleikly không nhà không cửa, chẳng quen biết người Jrai nào trong Pleikly, mới bặp bẹ được vài tiếng Jrai học được ở Cheoreo. Anh Trần Sĩ Tín trên đường đi đến Pleikly còn đánh mất dọc đường cái xách tay duy nhất của anh trong đó có vài bộ quần áo, vài cuốn sách. Anh tiếc nhất cuốn Tân Ước tràn ngập chú thích ghi được trong những năm học ở đại chủng viện. Giám mục đã đọc và giải thích cho chúng tôi đoạn Tin Mừng theo Luca 10,1-12 nói về việc Chúa sai 72 môn đồ đến mọi thành và nơi chốn. Sau đó ngài chúc lành cho chúng tôi, rồi lên xe về lại Kontum. Vì hoàn toàn không quen ai nên tới tối chúng tôi vẫn chưa tìm được nhà nào chịu cho chúng tôi ngủ trọ. Chúng tôi đành ngủ tại một căn phòng trường sơ cấp trong làng. Chúng tôi có mang theo chăn, nhưng không có giường… Từ sáng hôm sau, và những ngày tháng kế tiếp, chúng tôi bắt đầu làm quen với dân làng. Nhà nào cũng vào, gặp ai cũng chào hỏi. Họ cho gì ăn nấy. Vừa ăn vừa học tiếng asơi là cơm, ăn cơm thì nói là huă asơi, nhưng ăn bất cứ gì khác lại nói là =ong. Rồi no, đói, khát, mặn, nhạt, cay, đắng, ngọt, bùi… Rồi đến mùa gặt, chúng tôi xin bà con cho chúng tôi cùng gặt. Thế là có những buổi trưa cùng ăn trong ruộng lúa, có những buổi chiều cùng về trên con đường mòn, cùng tắm trong dòng suối mát… Thế là lại học được kỹ thuật canh tác, và thêm một số tiếng nói: tuốt lúa bằng tay gọi là puă, cắt lúa bằng liềm gọi là yuă pơdei hang mơnek, đạp lúa gọi là juă pơdei v.v… và v.v… Cứ như thế: cùng ăn, cùng làm, cùng nói, dần dần chúng tôi thân với họ, biết họ hơn và họ cũng biết chúng tôi hơn. Họ biết chúng tôi không phải là nhân viên cán bộ của chính phủ, không phải kẻ ăn lương của chính phủ… Họ giao con cái họ cho chúng tôi và nói: “Các anh hãy dạy cho chúng biết điều của các anh”… Một buổi tối bên đống lửa, một bô lão nói: “Chúng tôi đã lãnh đạo dân chúng tôi đến độ này… thời của chúng tôi đã qua rồi… Các anh hãy tiếp nối dìu dắt dân của chúng tôi”. Một người khác có học hơn nói: “Từ trước tới nay, người ta chỉ giúp chúng ta về mặt cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học… chưa có ai nói cho chúng ta về tinh thần, về tốt xấu, về hạnh phúc… những người này đến dạy cho chúng ta những điều ấy”. Khi dân làng đã cho chúng tôi một miếng đất bằng miếng đất của bất cứ gia đình nào trong làng, chúng tôi đã cất lên một ngôi nhà sàn theo đúng kiến trúc của một căn nhà Jrai. Chúng tôi lại tiếp tục công việc cày cuốc trồng lúa, bắp. Có thể có ruộng riêng, nhưng chúng tôi lại thích cầy ruộng của những gia đình có ruộng mà không đủ sức canh tác. Chúng tôi cùng làm với họ, cuối mùa chia lúa. Theo lệ làng chúng tôi đổi công với bà con trong làng… Dần dần chúng tôi khá thạo tiếng Jrai. Một phần nào, người làng đã coi chúng  tôi là bà con lối xóm. Trẻ thì gọi chúng tôi bằng anh, ngang tuổi gọi bằng bạn, người già hơn kêu chúng tôi bằng con, bằng cháu. ĐMHCG: Động lực nào đã thúc đẩy các cha chọn lối sống đó? Phải chăng đó là một chiến lược để truyền giáo cho hữu hiệu? Pt. TÍN: Không, đó không phải là một chiến lược để lấy lòng dân, một sách lược tuyên truyền: cần lấy cảm tình trước khi rao giảng. Điều chúng tôi nhắm là cố gắng thể hiện ngay trong chính nếp sống thường nhật của mình mầu nhiệm Thiên-Chúa-ở-cùng; chúng tôi sống như vậy là muốn làm muối làm men, muốn đi theo con đường nhập thể của Chúa Cứu Thế, cố gắng chia sẻ thật sự – trong mức độ có thể làm nổi – tất cả thân phận của anh em Jrai theo tinh thần ca vịnh thư Philip 2,5-11. Sống giữa những người suốt năm tháng chân lấm tay bùn, mình cũng phải sống lao động tới mức nào đó. Có lẽ chính vì muốn thể hiện đến cùng mầu nhiệm Thiên-Chúa-ở-cùng mà anh em chúng tôi mới bị bắt vào bưng hai lần liên tiếp. Trong hai ngày đầu của cuộc chiến tại Phú Nhơn, chúng tôi có thể lên tạm lánh nạn ở ấp người Kinh, ấp Đôn Hòa sát ngay quận; và lần bị bắt đợt hai, nếu chúng tôi chọn giải pháp đêm ngủ Đôn Hòa ngày xuống sống với anh em Jrai – như anh em Công giáo ở Đôn Hòa đề nghị – thì chắc đã không có gì xảy ra… Nhưng lúc ấy thì anh em Jrai ở Pleikly sẽ không đụng chạm dấu chứng nhắc nhở họ nhớ một Thiên Chúa là Cha tình thương hằng luôn ở với họ. Chúng tôi thấy trước những hiểm nguy có thể xảy ra, nhưng chúng tôi không có lựa chọn nào khác con đường Đức Kitô đã vạch. Ngài là Đấng có tên là Emmanuel: Thiên Chúa ở cùng. Trong bưng, mặt trận đã tra hỏi chúng tôi rất kỹ về cái vụ “ở cùng” này: ai chủ trương, ai trợ cấp tài chính cho các anh làm việc đó? Và chúng tôi đã thẳng thắn trả lời: chẳng có Vatican, chẳng có giám mục, chẳng có Bề Trên Sài Gòn hay Rôma nào chủ trương cả, nhưng là do ông Yêsu thành Nazarét, chúng tôi cố gắng đi theo vết chân Ngài. ĐMHCG: Trước khi bị bắt vào bưng – nghĩa là sau gần hai năm chia sẻ đời sống anh em Jrai – các cha đã khám phá và thực hiện được những gì? Và có những dự tính nào rồi? Lm. MẦU: Điều chúng tôi khám phá ra là Thiên Chúa đã đi trước chúng tôi và anh em Jrai đã được sửa soạn để đón Tin Mừng của Thiên Chúa. Nhận được điều đó, chúng tôi dễ tránh được nạn thay thế Tin Mừng của Thiên Chúa bằng tin mừng của chúng tôi. Phải nhìn nhận rằng chúng tôi đã được chính anh  em Jrai rao giảng Tin Mừng cho rất nhiều… Pt. TÍN: Trước khi bị bắt vào bưng: tức là tới ngày 15/03/1971, nếu muốn nhìn thấy những thành quả cụ thể thì khó có thể thấy. Nhất là những người hỏi xem chúng tôi đã rửa tội được bao nhiêu người thì lại càng thất vọng… Nhưng nếu nhìn theo một lối nhìn nào đó, thì chúng tôi tưởng có thể khác… chẳng hạn như: 1. Niềm vui của những kẻ được đón nhận trong tình người mộc mạc nhưng đậm đà. Giá trị cần lao. Giá trị đời sống cộng đoàn. Thí dụ: Amí Yep hỏi chúng tôi có phải anh em cùng cha cùng mẹ không? Hay là người cùng làng? Khi chúng tôi cho chị ta hay chúng tôi không phải là anh em cùng cha cùng mẹ, cũng không phải người cùng làng cùng xóm, trái lại chúng tôi là kẻ Nam người Bắc, chị rất ngạc nhiên nói: “Thế mà coi các anh sống với nhau, tôi cứ tưởng các anh là anh em”. Chị hỏi tiếp: “Thế các anh có biết giận nhau không?” Chúng tôi trả lời: “Có chứ, nhưng chúng tôi cố gắng khi mặt trời lặn rồi thì cũng hết giận” (Ep 4,26). Qua nỗi thắc mắc của người quả phụ, chúng tôi nhớ lại sống cộng đồng, sống yêu thương là dấu chỉ của môn đồ Chúa (Jn 13,35). Và qua những ngày tháng ở Pleikly chúng tôi khám phá dần thêm những khía cạnh khác của đời sống tu sĩ, linh mục, của mầu nhiệm Hội Thánh v.v… 2. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng tôi còn khám phá ra được người Jrai có một kho tàng văn hóa rất phong phú, một cơ cấu xã hội đặc biệt, một nền văn chương khẩu truyền quý giá gồm những bài tục ngữ, ca dao, bài hát, chuyện cổ hay thần thoại… Họ có những đức tính tự nhiên rất đáng phục… Chính đời sống và kho tàng văn hóa Jrai đã thách thức, thanh luyện lề lối suy nghĩ, thái độ và lối sống của chúng  tôi, và như anh Mầu nói: đã giảng Tin Mừng cho chúng tôi”… Thấy được văn hóa của họ là một khám phá hết sức quý giá đối với chúng tôi. Văn hóa là gì nếu không phải là sự thích nghi hay đẹp của con người xã hội với thế giới chung quanh. Thế giới đó tàng ẩn Lời Thiên Chúa nói, kêu gọi và dẫn dắt con người đến gặp Ngài. Nếu ta tin Thiên Chúa đã tạo dựng nên tất cả và đã giải phóng tất cả trong Đức Kitô, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa hằng làm việc nơi các dân tộc. Là Chúa tể lịch sử. Ngài hằng giáo dục và dẫn dắt mọi người đến với Ngài qua những gì là tinh túy thiện hảo trong phong tục văn hóa của mỗi dân tộc. Văn hóa, nhân sinh quan của mỗi dân tộc trong những gì là tinh túy của nó, thật sự là con đường đưa tới Đức Kitô, một thứ Cựu Ước dọn đường và chuẩn bị cho họ nhập vào Giao Ước mới. Ngài đến “không phải để bãi bỏ” những giá trị, nhưng “để làm nên trọn” (Mt 5,17). Trong thư Rôma chương một, câu 19, thánh Phaolô đã nói rất rõ: “Đã hiện tỏ nơi họ những gì cần biết được về Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa đã bày tỏ ra cho họ”. Người “không hề để thiếu chứng chỉ về Người” (Cv 14,17). Và quả thật, Người không xa mỗi người chúng ta, vì chưng trong người, ta sống, ta cử động, ta có (Cv 17,27-28)… Chúng tôi cố gắng sống điều mà Sắc lệnh Sứ vụ Truyền giáo đã nhắn nhủ: “Người Kitô hữu phải vui mừng và kính cẩn khám phá ra những mầm sống của Lời ẩn trong những  truyền thống quốc gia và tôn giáo của các dân tộc” (Sắc lệnh Sứ vụ Truyền giáo số 11). Nói tóm lại. Chúa đã có mặt giữa người Jrai trước khi chúng tôi đến với họ. Vấn đề là chúng tôi phải làm thế nào để nhìn thấy được Người đang có mặt, đang hành động trong chính nền văn hóa, cũng như trong chính cuộc sống thường ngày của họ. Làm sao khám phá ra được con đường họ đang đi và phải đi để tìm kiếm Thiên Chúa và gặp được Người. Họ đã đi đến đâu rồi? Và còn phải gắng đi thêm những bước nào nữa? Nói cách khác; làm sao chúng tôi khám phá ra được con đường Cựu Ước của dân Jrai? Và làm thế nào giúp họ vượt qua cả nền Cựu Ước đó để nhập vào Giao Ước mới trong Máu Đức Kitô? 3. Về mặt phát triển, chúng tôi thấy đây là một lãnh vực quá rộng lớn đối với chúng tôi. Chúng tôi chỉ mới bắt đầu làm việc với họ, đem lại cho thanh niên Jrai mối tình quý mến đất đai và lao động. Cùng làm việc với dân làng và cùng họ đặt vấn đề phát triển chung. Con đường trước mặt còn dài và còn phải vượt qua nhiều gian khổ, nhất là khi chúng ta xác tín rằng chỉ có thể phát triển được thực sự trong một nước hòa bình, độc lập và tự do… 4. Ngoài ra, theo lời kêu gọi của chúng tôi, có khoảng 30 em, mỗi chủ nhật đã đến nghe chúng tôi nói về Cha của chúng tôi và cũng là Cha của các em. Chúng tôi dự trù sẽ đưa các em đi từng nhà, với sự đồng ý của chủ nhà, để các em cùng chúng tôi loan báo Tin Mừng. Như vậy, mỗi một người, một khi đã biết và tin Chúa theo trình độ của mình sẽ cùng người khác hợp thành cộng đoàn làm chứng cho Chúa.   ĐMHCG: Sau hai lần bị bắt vào bưng, nhà cửa, sách vở và bao công lao học hỏi, sưu tầm đều cháy sạch, các cha nghĩ gì về công việc đã làm ở Pleikly? Lm. MẦU: Chúng tôi không cảm thấy bất ngờ khi được đưa vào bưng, vì chúng tôi đã chấp nhận trước những gì sẽ xảy đến cho chúng tôi. Có thể nói, việc bị bắt kết thúc một giai đoạn đầu. Những gì chúng tôi đã khởi đầu phải được quét dọn đi, để chúng tôi đặt vấn đề cho giai đoạn tới. Trong bước khởi đầu tất có những sai lạc, lỗi lầm, đượm nhiều cố chấp và đầy những thiên kiến. Những phương tiện chúng tôi dùng, có lẽ còn quá giàu, công việc chúng tôi làm có lẽ còn quá ỷ lại, những học hỏi còn quá nhiều thiếu thốn, nên Chúa đã cố ý thanh luyện chúng tôi. Còn nghĩ gì về những việc đã làm, tôi xin thú thật, chúng tôi đã làm được gì đâu mà nghĩ? Lm. TÀI: Sau hai lần bị bắt, mất hết những gì trông thấy được: nhà cửa, những tài liệu sưu tầm học hỏi, ruộng vườn đang canh tác, những dự định, tạm thời rời xa nhóm Jrai thân hữu đang thành hình, tạm thời cắt đứt liên lạc với một số người bắt đầu chú ý tới Tin Mừng: chúng tôi đã chấp nhận điều đó ngay từ đầu, chúng tôi đã chấp nhận sự thất bại trước mặt loài người. Khi bom đạn giáng xuống trên đầu, khi đứng trước họng súng đầy đe dọa, khi bị những cơn rét thập tử nhất sinh hành hạ: chúng tôi nói với nhau và nói với Chúa: chúng tôi sẵn sàng chấp nhận tất cả. Công cuộc truyền đạo nằm trong biện chứng chết — sống lại, hủy diệt và tôn vinh của hạt lúa gieo xuống lòng đất (Jn 12,23-24), Philip 2,6-11). Chính những khổ cực đày đọa, thập tử nhất sinh đó mà chúng tôi nghiệm thấy cách thấm thía rõ ràng lời Phaolô hằng nhắc đi nhắc lại: “Chính lúc chúng tôi yếu là lúc chúng tôi mạnh” (2 Cr 12,10), mạnh bằng quyền năng trên trời dưới đất (Mt 28,18), bằng quyền năng của Thần Khí (Rm 15,19). Chỉ e rằng chúng tôi còn giàu quá, mạnh quá bằng sự giàu có quyền năng của loài người. Chỉ e rằng chúng tôi đầy đủ phương tiện quá. Chúng tôi đây là những người đã chọn làm chứng bằng sự khó nghèo. Dĩ nhiên sẽ có những người chọn làm chứng cho Chúa bằng con đuờng khác, cũng cao cũng đẹp, và đòi hỏi nhiều phương tiện. Nhưng dầu sao chúng ta vẫn phải làm trong lòng vị tha quên mình, “hưởng thế gian như không tận hưởng” (1 Cr 7,31). ĐMHCG: Xin các cha cho biết rõ hơn quan niệm của các cha về truyền giáo, và xin cho biết quan niệm đó bắt nguồn từ một cái nhìn nào về Hội Thánh? Pt. TÍN: Danh từ truyền giáo của chúng ta thường được hiểu một cách quá hạn hẹp, quá vật chất nữa. Hoạt động truyền giáo của chúng ta trong nhiều trường hợp cũng rất hạn hẹp và vật chất: truyền giáo là thuyết phục, là lôi kéo người ta vào Đạo, là đưa người ta chịu phép Thanh Tẩy. Truyền giáo đối với chúng ta hình như là lý luận bằng lời nói. Hội Thánh đâu có dạy chúng ta làm như thế. Chúng ta cứ nhầm lẫn cá nhân với Hội Thánh, cá nhân không bao giờ là Hội Thánh được cả. Đúng hơn là chúng ta chỉ thấy một khía cạnh của vấn đề mà chúng ta tưởng đó là tất cả vấn đề. Chúng ta đã thấy được cái phụ thuộc mà chúng ta tưởng đó là chính yếu… Vì thế nên chúng tôi đâm ra không thích hai tiếng truyền giáo. Theo kế đồ của chúng tôi được mạc khải trong Kinh Thánh, chúng ta được biết: vì yêu thương loài người nên Chúa Cha đã SAI Con một thành xác phàm… Con Một lại SAI các môn đồ, tức Hội Thánh, trong Thánh Thần: “Cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi”, nói thế rồi Ngài thổi hơi trên họ và nói: “Hãy chịu lấy Thánh Thần…”. Vì thế chúng tôi thích tiếng sứ vụ hơn. Hay bất cứ tiếng gì có tiếng sai đi. Hội Thánh được sai đến trong thế giới để tiếp nối sứ mệnh của Chúa Kitô làm ÁNH SÁNG CHO MUÔN DÂN, dấu chỉ và nhiệm tích đại đồng của ơn cứu rỗi (Hiến chế về Hội Thánh số 48 và Sắc lệnh về Sứ vụ Truyền giáo của Hội Thánh). Và chúng ta cũng không quên được tầm ý nghĩa của Hiến chế Mục vụ Hội Thánh trong thế giới ngày nay… Hội Thánh làm chứng cho Nước Trời bình an và công chính, “làm chứng tá cho Chúa cho đến mút cùng mặt đất” (Cv 1,11). Làm chứng thì không phải thuyết phục là đủ. Nó còn là một cố gắng, một van nài cho “Nước Cha thể hiện, ý Cha được thành sự” (Mt 6,10) ngay nơi mình. Và nhờ đó sự cố gắng ấy, lời van nài ấy lại thành dấu chỉ, dấu chứng cho người khác thấy mà tin. Đạo lý về Nước Trời cũng soi sáng cho hoạt động truyền giáo. Ý niệm Nước Trời, như thấy trong Tân Ước, rộng hơn ý niệm Hội Thánh. Hội Thánh là dấu chỉ của Nước Trời, mà dấu chỉ không diễn tả hết điều nó chỉ, không thể bao quát trọn vẹn mầu nhiệm. Chúng ta tin rằng Nước Trời đã thành tựu trong và nhờ Đức Yêsu Kitô. Vương quyền yêu thương của Thiên Chúa đã toàn thắng tất cả, đã kéo tất cả về một đầu một mối bằng một sức mạnh không gì cưỡng lại được (Jn 19,30 ; 16,33 ; Kh 5,6tt ; Ep 1,19tt). Vậy khi ta vâng lệnh Thiên Chúa mà công bố rằng: Nước Trời đã gần bên (Lk 10,9) thì không phải chúng ta nói suông, hay nói một điểm lý thuyết, hay quả quyết một cái gì chưa có, chưa xảy đến, mà là chúng ta chiêm nghiệm, chiêm ngưỡng một sự kiện đã có và đang xảy ra trước mắt ta. Chúng ta thấy dấu hiệu của Nước Trời đó ngay trong cái xã hội của những người mà chúng ta muốn thông chia Tin Mừng. Thế đứng bởi đó có thể bị đổi ngược: chúng ta thành những người đi tìm kiếm Nước Trời nơi người ngoại, nơi người ngoài. Ngoài Hội Thánh, thứ Hội Thánh hữu hình có cơ cấu, có tổ chức này. Và ở đây chúng ta thấy cái biện chứng gặp mãi trong các sách Tin Mừng: những kẻ ở ngoài mà lại ở trong, và những kẻ ở trong mà lại ở ngoài! Chúng ta khám phá ra một “Hội Thánh ngoài Hội Thánh” của những người Samari nhân hậu (Lc 10,29-37), của đứa con hoang đàng (Lc 15,11-32) của những cô gái điếm được vào nước thiên đàng trước các thầy cả và biệt phái v.v… Điều mà chúng tôi đã đụng chạm được khi sống với anh em Jrai và ngay cả trong bưng nữa. Tất cả anh em chúng tôi đã ngạc nhiên khi khám phá ra Nước Trời có mặt trong đó. Có thể nói, ở trong đó chúng tôi đã gặp người Samari nhân hậu, đã được “rao giảng Ting Mừng” rất nhiều, đã được Chúa buộc xét lại toàn bộ đời sống tín hữu, tu sĩ và linh mục của mình, xét lại toàn bộ đời sống Hội Thánh. Và đáp lại chúng tôi đã có thể nói về Chúa Kitô, về Hội Thánh một cách rõ ràng thẳng thắn thật hiếm có.(1) Hội Thánh còn là Hội Thánh lữ hành, chưa đặt đến cùng đích, chưa đặt đến tầm vóc trưởng thành thật trong Đức Kitô nên còn chờ đợi trong rên siết sự hiển hiện của con cái Thiên Chúa (Rm 8,19-22) còn phải tìm kiếm mãi, tìm kiếm khắp nơi, cho đến tận cùng mặt đất… Tóm lại là chúng ta phải có một sự khiêm hạ nào đó khi đi loan báo Tin Mừng. Từ bỏ hẳn thái độ bố thí, thái độ của kẻ có đem cho, thái độ của kẻ biết đi thuyết phục. Đã qua rồi thời kỳ đi truyền giáo với tâm não của những kẻ văn minh đi khai hóa cho dân mọi rợ. Đã qua rồi thời kỳ truyền giáo nương theo làn sóng thực dân, chinh phục, chiếm đất, nương theo quyền thế… Lm. TÀI: Hội Thánh còn là Hội Thánh luôn bị động dưới sức mạnh của Thánh Thần thôi thúc chúng ta phải ra đi: có khi bỏ và luôn sẵn sàng bỏ 99 con chiên để ra đi kiếm một con. Và ở đây không phải là một con… Hội Thánh sứ đồ là Hội Thánh không nhà không cửa, không dừng chân khi chưa tới đích, thúc bách bởi lòng mến của Đức Kitô (2 Cr 5,14) để hòa đồng và thánh hóa mọi cơ cấu: “Khốn cho tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng!” (1 Cr 9,16) và Hiến chế Hội Thánh: Ánh sáng muôn dân 17). Lm. PHÁN: Cho tới hôm nay, công việc truyền giáo của nhóm chúng tôi còn một thiếu sót lớn và có thể nói là khá nguy hiểm: hiện nay vì hoàn cảnh thiếu an ninh nhóm anh em chúng tôi còn lại toàn là linh mục. Và khi mà công việc của sứ đồ, như anh Tín và anh Tài vừa nói, chỉ là cố gắng thể hiện mầu nhiệm Hội Thánh dấu chứng, cố gắng trình bày cho anh em Jrai hình ảnh Hội Thánh để họ tự nguyện nhập vào, thì sắc thái giáo sĩ của nhóm có thể làm cho anh em Jrai nhầm trưởng rằng công việc truyền giáo hay sứ mệnh làm chứng là công việc riêng biệt của một số người linh mục chứ không phải là công việc của toàn thể Cộng đoàn Dân Chúa: linh mục và giáo dân. Vì Hội Thánh là Dân Chúa chứ không phải chỉ là giáo sĩ, tu sĩ… Và như vậy khi nghĩ đến Hội Thánh họ dễ chỉ nghĩ  ngay đến mấy ông cha, tương tự ít nhiều như một số giáo dân người Kinh chúng ta lâu nay. Bao lâu chưa gầy dựng được một ê kíp sứ đồ khả dĩ trình bày ngay trong đời sống của mình bộ mặt thật của Dân Chúa, bấy lâu vẫn còn thiếu sót và nguy hiểm. Vì ấn tượng đầu tiên rất quan trọng. Lời giảng dạy không bao giờ thay thế được chứng tá của sự sống. Xa hơn nữa, toàn thể Dân Chúa đã được triệu tập để được sai đi, nên không thể khoán trắng sứ mệnh truyền giáo cho một số người. Hội Thánh khắp nơi trên thế giới, và đối với anh em Jrai, Hội Thánh Chúa tại Pleiku, Phú Bổn, phải sống cái sứ vụ truyền giáo đó, để anh em Jrai thấy đâu đâu cũng là một Hội Thánh duy nhất. Công việc hơi đặc biệt của chúng tôi không thay thế sứ mệnh đó của Hội Thánh Chúa tại Pleiku, Phú Bổn. Trái lại, chứng tá của các cộng đoàn Hội Thánh trên “đất nước” Jrai này là chính yếu và không ai có thể thay thế được. Không có chúng tôi, anh em Jrai vẫn có thể đụng đầu với Hội Thánh ngay trên “đất nước” của họ, trong môi trường sống hằng ngày của họ. Có thể nói nhóm truyền giáo chúng tôi chỉ đóng vai phụ. Chính các cộng đoàn địa phương tại chỗ mới đóng vai trò chính và căn bản. Đằng khác, nhóm anh em chúng tôi, giả sử có đầy đủ thành phần đến đâu, cho dù có cố gắng hòa mình thành Jrai với anh em Jrai đến đâu, chúng tôi vẫn là người Kinh. Chúng tôi vẫn không thể hiểu và cảm thông hết tất cả những giá trị chân thật cùng những khổ đau và khát vọng của anh em Jrai. Vì thế chỉ có người Jrai mới có thể truyền giáo cho người Jrai cách đầy đủ thật. Chính những anh em tín hữu Jrai phải lãnh lấy vai trò càng ngày càng trọng yếu trong công cuộc làm chứng, trong công việc truyền giáo cho sắc tộc mình. Không ai có thể thay thế họ được. Chúng tôi chỉ đóng vai trò khơi mào, vai trò xúc tác. Và trong công việc điều hành, lãnh đạo các cộng đoàn Jrai như vậy. Vị linh mục lãnh đạo các cộng đoàn phải lấy từ trong dân (Hr 4,15-16, 5,1-4). Đòi hỏi này đặt ra rất nhiều vấn đề hóc búa phải giải quyết. Nhưng đó là yêu sách của mầu nhiệm nhập thể: nhập thể Hội Thánh vào một sắc dân. Nơi đây, chúng tôi lại càng phải ý thức vai trò chỉ là “xúc tác” rất khiêm tốn của chúng tôi, biết rõ giới hạn khả năng và công việc của mình. Và tôi tưởng lúc mà Hội Thánh Chúa trong sắc tộc Jrai tạm đủ trưởng thành, thì vai trò của chúng tôi phải lu mờ dần… phải rút đi nơi khác hoặc trở về cộng đoàn gốc của mình với những bài học Tin Mừng cũng như đòi hỏi xác đáng và những vấn đề hóc búa mà sắc dân Jrai đã nêu cho chúng tôi, cho toàn thể Hội Thánh… để làm giàu và tươi trẻ Hội Thánh. Tuy vậy, sự liên đới của chúng tôi với anh em Jrai sẽ không phai mờ. Trái lại, đây sẽ là lúc mà chắc cũng như các thừa sai tây phương một khi về nước của họ, chúng tôi đặc biệt nhìn thẳng vào nguyên nhân sâu xa lâu nay hằng làm cản trở bước tiến của Hội Thánh Jrai, những não trạng và thể chế rộng lớn lâu nay hằng bóp chết mọi hy vọng phát triển của sắc dân thiểu số. Vì Hội Thánh còn phải chịu trách nhiệm về “tất cả những gì liên quan đến nhân phẩm con người” (Sứ điệp các giám mục Á Châu số 17). ĐMHCG: Cha Phán vừa nhắc đến vấn đề phát triển và trách nhiệm bảo vệ nhân phẩm của Hội Thánh, xin các cha cho biết: các cha quan niệm thế nào về tương quan giữa công việc phát triển và truyền đạo? Pt. TÍN: Ngày nay không thể nói tới loan báo Ting Mừng mà không nói tới phát triển. Phát triển và loan báo Tin Mừng không đối chọi nhau, không loại trừ nhau mà mật thiết đi đôi với nhau. Thông điệp Phát triển các dân tộc nói đến một sự phát triển con người toàn diện và liên đới. Trong số 21 bàn về lý tưởng phải theo đuổi, thông điệp vạch con đường phát triển khởi từ việc được tham gia đầy đủ vào đời sống con người đến việc được tham gia vào chính sự sống của Thiên Chúa như sau: “Một sự phát triển đích thực đối với con người cũng như đối với mọi người, là đi từ những điều kiện ít xứng với con người đến  những điều kiện xứng với con người hơn. Ít xứng với con người là thiếu thốn về vật chất cũng như về tinh thần và còn là bị những cơ cấu xã hội đè nén. Xứng với con người hơn, có nghĩa là làm cho con người từ nghèo đói đến no đủ, loại trừ các tệ đoan xã hội, mở rộng được kiến thức, hấp thụ được văn hóa. Xứng với con người hơn, còn có nghĩa là kính trọng nhân phẩm của người khác hơn, hướng về một tinh thần nghèo khó, mưu cầu ích chung, quyết tâm hòa bình. Xứng hợp với con người hơn, còn có nghĩa là con người nhìn nhận những giá trị tối cao và nhìn nhận Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của mọi giá trị. Xứng hợp với con người hơn, sau hết và hơn hết, là: con người thành tâm đón nhận Đức Tin, tức là đón nhận ân huệ của Thiên Chúa, và hòa hợp các tâm hồn trong tình yêu của Đức Kitô, Đấng đã gọi chúng ta để được làm con, tham gia vào sự sống của Thiên Chúa hằng sống, Cha của mọi người” (Phát triển các dân tộc số 21). Như vậy anh thấy công việc gọi là truyền đạo của chúng tôi ở đây không ra ngoài cái chương trình phát triển mà thông điệp đã vạch, và chương trình đó có khác gì với công việc truyền đạo của chúng tôi? Không thể tách rời công cuộc phát triển ra khỏi công cuộc truyền giáo. Comblin, nhà thần học của những nước chậm phát triển quả quyết: évangéliser, c’est humaniser: loan báo Tin Mừng tức là làm cho con người thành người hơn. Và nơi khác ông nói: trong những hoàn cảnh áp bức cách này hay cách khác, nói tới phát triển tức là nói tới giải phóng. Trong văn kiện gửi Thượng Hội Đồng Giám Mục. Hội Đồng Giáo Dân thế giới nói: “Linh mục không thể loại hẳn mọi lo lắng vật chất cho dân mình, nhất là tại những xã hội dẫy đầy chênh lệch bất công đòi linh mục phải dấn thân tranh đấu cho một sự công bằng tối thiểu…” (Sự cộng tác giữa linh mục và giáo dân số 11). Và trong hoàn cảnh mất an ninh của đất nước Jrai chúng tôi ở đây: bước đầu tiên của phát triển là hòa bình. Mà phải là hòa bình trong độc lập và tự do, bằng không chưa phải là phát triển thật. Nhưng phát triển ngày nay đã trở thành một vấn đề rộng lớn và là một vấn đề chuyên viên. Chúng tôi ý thức và luôn tự cảnh giác rằng phát triển không phải là hoạt động chuyên biệt của chúng tôi, chúng tôi càng không phải là những chuyên viên phát triển. Có thể nói đó là một lựa chọn của chúng tôi, nếu không phải vì vai trò linh mục của chúng tôi thì cũng vì chúng tôi hoàn toàn không được đào tạo để làm công việc ấy. Vậy chúng tôi quan niệm đây là công việc của giáo dân: tìm kiếm và xây dựng Nước Thiên Chúa trong việc tổ chức, quản trị những thực tại trần thế (Hiến chế về Hội Thánh Ánh sáng muôn dân số 31) trong sự cộng tác với tất cả mọi người thiện tâm. Dấu chứng của Hội Thánh Đức Kitô có thể nói cũng tương tự như dấu chứng của chính Chúa Kitô, “Đấng sẽ đến”, là tất cả những gì  mà Chúa Yêsu đã dạy các môn đồ của Johan Tẩy Giả hãy tin lại cho thầy của họ: “Mù được sáng, què được đi, phong hủi được sạch, và kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại, nghèo khó được nghe báo Tin Mừng” (Lc 7,18-23). Loan báo Tin Mừng cho người nghèo là sứ vụ đặc biệt của chúng tôi; nhưng những công việc đằng trước há chẳng phải là những công việc riêng biệt của giáo dân sao? Và ở đây anh lại thấy một lý do tại sao chúng tôi cần đến sự công tác của giáo dân. Kinh cũng như Thượng, giáo dân dấn thân giữa đời, cũng như tu sĩ nam nữ không phải là linh mục. ĐMHCG: Xin các cha cho biết rõ hơn ước mong của các cha về phần đóng góp của người Kinh ngay tại Pleiku, Phú Bổn, hay của những người Kinh từ các nơi khác muốn dấn thân lên đây phục vụ anh em thiểu số Jrai? Lm. PHÁN: Trước khi trả lời câu hỏi này, anh cho phép tôi trở lại một chút vấn đề người giáo dân hay tu sĩ nam nữ Kinh dấn thân phục vụ anh em thiểu số. Như anh Tín đã nói hồi nãy, đã qua rồi thời truyền giáo với tâm não những kẻ văn minh đi khai phá cho dân mọi rợ – vì sự kiện đã cho thấy người các nước văn minh cũng có nhiều chuyện mọi rợ và man rợ hơn, đã qua rồi thời truyền giáo nương theo làn sóng thực dân, nương theo quyền thế… Chính người Jrai phải khai hóa và tự giải phóng lấy người Jrai. Không ai có thể thay thế họ, và không ai được quyền thay thế họ. Các chuyên viên người Kinh chỉ là yếu tố xúc tác. Vấn đề là giúp cho người Jrai tự phát triển theo cá tính và bản lĩnh của họ cho kịp đà tiến của nhân loại, nhưng không phải là đồng hóa Jrai thành người Kinh. Vì như vậy cũng là một hình thức diệt chủng. Cần phải giúp họ khám phá những giá trị chân thực của dân tộc họ để bảo tồn và phát huy thêm, đồng thời gây nơi họ lòng tự tin cần thiết cho mọi công cuộc phát triển chân thực. Phải phát huy sự tự do và độc lập của họ. Vì đó là những gì căn bản, không gì quý bằng, không gì thay thế được. Bằng không chúng ta chỉ phát triển sự ù lì, tinh thần ỷ lại, tinh thần vô trách nhiệm… tức phát triển những món hàng nô lệ… Công đồng Vatican II đã nói: Trong các dân tộc có khi đã có những thói tục quản trị cộng đồng mà chúng ta phải rất thận trọng cứu xét để duy trì hay để cải tiến (Hiến chế Vui mừng và Hy vọng số 69). Và trong sắc tộc Jrai thật sự có những giá trị nhân bản mà chúng ta phải tìm đọc cho ra để định hướng cho công cuộc phát triển anh em Thượng. Vấn đề mà chúng ta phải tự đặt mãi là: đâu là hình ảnh, là khuôn mẫu của cái xã hội mà chúng ta mà chúng ta muốn giúp họ tiến đến? Xã hội nào phù hợp với truyền thống của họ, trong đó họ có thể sống còn trong độc lập và tự do thật? Thiết tưởng, chúng ta phải đồng ý về điểm này để tránh cho những người được phát triển những kinh nghiệm đau thương mà qua lịch sử, xã hội loài người nói chung đã trải qua. Ví dụ chúng ta không thể phát triển với một xã hội sung túc nhưng xa xỉ vụ lợi, cá nhân chủ nghĩa, cạnh tranh theo kiểu cá lớn nuốt cá bé, sống chết mặc bây, không đếm xỉa đến nhân quyền… Pt. TÍN: Còn sự ước mong của chúng tôi về sự đóng góp của tín hữu Kinh ngay tại Pleiku, Phú Bổn?… Là họ hãy làm chứng cho Tin Mừng không phải chỉ bằng lời nói (có người nói suông cũng chẳng chịu hay chẳng biết) nhưng bằng cả đời sống. Mạnh mẽ dứt khoát từ bỏ thái độ kẻ cả, miệt thị và có khi bóc lột người Thượng. Ví dụ đừng gọi người Thượng là “mọi” vì mình cũng mọi lắm. Bước đầu tiên này có nhiều người chưa bước nổi. Hãy tạo bầu khí kính trọng và hiểu biết nhau, sau đó chúng ta sẽ nói đến những gì có thể cùng làm cùng đóng góp… cho công cuộc truyền giáo và phát triển… Và ở các nơi khác cũng vậy, chúng tôi không bao giờ nhận tiền bố thí cho người Thượng. Vấn đề là mọi người phải chấp nhận cái quyền làm người của anh  em thiểu số với đầy đủ ý nghĩa và đòi hỏi của nó… Anh chỉ cần đến bất cứ một ngôi chợ, một bến xe đò nào trên Tây Nguyên này là anh thấy ngay những áp bức và xúc phạm đến nhân phẩm con người. Các tín hữu Chúa Kitô chỉ cần mở mắt để thấy và phản ứng theo Tin Mừng. Chúng tôi ước mong rất ít nhưng là những điều, phải thú nhận, rất khó, vì nói đòi thay đổi cả một lối nhìn, một não trạng, một thái độ sống. ĐMHCG: Các cha quan niệm thế nào về trách nhiệm và chỗ đứng của chính những Kitô hữu Jrai trong lòng Hội Thánh Jrai mà các cha đương góp sức gầy dựng? Các cha đã nghĩ đến cách làm thế nào để chóng  thấy ngày chính người Jrai lãnh đạo cộng đoàn Hội Thánh Jrai ngày phải càng lớn mạnh? Lm. MẦU: Vấn đề này đã được anh Phán đề cập sơ qua khi nói đến vai trò khiêm tốn của nhóm sứ đồ truyền giáo chúng tôi. Tôi xin nói rõ hơn: Mở lại Công vụ 6,1-6, ta thấy cộng đoàn tiên khởi đã chọn bảy tá viên và số tá viên này theo như Công vụ 6,8 là những người cầm đầu các nhóm tín hữu Hi hóa. Điều đó cho thấy, những cộng đoàn hi hữu đều có những người cầm đầu là người Hi hóa. Trong những cộng đoàn Jrai mới thành hình, không thể nào không đặt vấn đề đó. Chính người Jrai phải đặc trách những cộng đoàn Jrai. Điều này không có gì phải gây thắc mắc hiện nay cả. Các văn kiện Tòa Thánh về truyền giáo đã nói qúa rõ. Nhưng có thắc mắc đi chăng nữa là những điều kiện chọn những người đó phải như thế nào. Sau đây một vài điều chúng tôi suy nghĩ và thấy được diễn tả cách nôm na như sau: - Không thể nào đợi đến khi đào tạo xong một người linh mục Jrai để đưa vào đặc trách một cộng đoàn Jrai, và đợi tới khi nào mới đủ? - Vấn đề đặc trách một cộng đoàn nhỏ không đòi hỏi phải có một kiến thức đầy đủ như giáo luật định được. - Người đặc trách cộng đoàn không bắt buộc phải ở độc thân như các tu sĩ. - Họ phải được ủy quyền đầy đủ để hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo cộng đoàn của họ. - Họ không nhất thiết phải là vị đặc trách vĩnh viễn. - Vấn đề sinh sống và an ninh xã hội cho gia đình họ v.v… Những vấn đề này phải giải quyết như thế nào? Một mình chúng tôi không đủ thẩm quyền để trả lời… Phần chúng tôi, hiện nay, chúng tôi chủ trương một tinh thần đồng trách nhiệm và đồng lao cộng tác với nhau trên lĩnh vực truyền giáo. Pt. TÍN: Sau khi đã được nghe và tin theo Tin Mừng, người tín hữu Jrai liền có bổn phận loan báo Tin Mừng ấy cho đồng loại. Họ là những tín hữu có tư cách nhất, có thẩm quyền nhất để làm chứng và diễn tả Tin Mừng theo tình tự dân tộc họ… Chúng tôi phải nhường chỗ cho họ lớn lên. Vả lại chúng tôi còn phải đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các làng xa khác nữa (Lc 4,43). Mối quan tâm của Hội Thánh trong những xứ truyền giáo là làm sao cho có một hàng giáo phẩm địa phương. Đây là một trong những vấn đề phải thích nghi: phải thích nghi cái gọi là hàng giáo phẩm với truyền thống, văn hóa, hay ít nữa giai đoạn hiện tại của dân Jrai. Hiện tại họ không có linh mục Jrai, và cũng chưa tìm ra tiếng để diễn tả phần vụ ta gọi là linh mục. Chả nhẽ gọi linh mục là “ông thầy cúng” hay “ông tụng kinh”! Còn dịch tiếng linh mục thẳng tắp ra tiếng Jrai thì nó sẽ thành “người chăn linh hồn”: vừa dài dòng, rùng rợn và buồn cười (đối với người Jrai, dĩ nhiên). Thiết tưởng để giải quyết vấn đề lãnh đạo một cách hợp lý cho những cộng đoàn tín hữu Jrai, chúng ta phải trở về nguồn, trở về với những hội thánh sơ khai thời các tông đồ. Những phần vụ trong Hội Thánh là những phần vụ nào? Những phần vụ ấy được trao cho những ai? Trao cách nào? Và được thi hành như thế nào? v.v… Trong những bước đầu của Hội Thánh Jrai, chúng ta có thể làm theo những hội thánh thời các tông đồø hay không? Tôi tưởng nếu ta giải đáp được câu hỏi đó, tức chúng ta đã bắt đầu tìm ra những giải pháp cho vấn đề các thừa tác viên trong những cộng đoàn tín hữu Jrai. Trong hoàn cảnh ngày càng thiếu linh mục lên Tây Nguyên — (mà nếu có thì những người lên Tây Nguyên là để truyền giáo chứ không phải để làm cụ xứ) — mà lại phải trông chờ một linh mục Jrai với hàng chục năm đào tạo văn hóa, triết lý, thần học, một linh mục đúng luật lệ hiện hành thì thật là tai hại… cả đôi đàng. Chúng ta phải tìm cho ra điểm ưu tiên. ĐMHCG: Như vậy, các cha có thấy trước những khó khăn hay có thể nói những đụng độ không thể tránh được mà các cộng đoàn sắp gầy dựng từ lòng đất Jrai sẽ gặp phải khi tiếp xúc và hòa mình với những cộng đoàn cổ truyền đã có sẵn lâu này không? Pt. TÍN: Rất đồng ý với anh là vấn đề tôi mới trình bày có thể gây đụng độ trong trường hợp mà những cộng đoàn tín hữu Jrai cảm thấy thật sự cần một thừa tác viên Jrai được quyền cử hành cả nhiệm tích thánh lễ mà lại được miễn trừ những giai đoạn đào tạo hay những luật lệ áp dụng cho các linh mục trong Hội Thánh Công giáo chẳng hạn… Nhưng tôi tưởng, chữ “đụng độ” không xác đáng. Đúng hơn phải nói là “gây vấn đề”.     ĐMHCG: Đồng ý! Nhưng khi các cộng đoàn cổ truyền không thấy được đó là một vấn đề suy nghĩ và xét lại chính tổ chức hay đời sống của họ lâu nay, thì vẫn không có chuyện “gây vấn đề” như các cha cầu mong mà chỉ có chuyện gây đụng độ thôi. Lm. MẦU: Phải rồi, nhưng chuyện đó không phải là lỗi của cộng đoàn Jrai. Ngạn ngữ Việt Nam có câu: “nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. Trong Tin Mừng Chúa cũng nói “trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ”. Vấn đề chấp nhận phải ở hai chiều. Dân tộc Jrai chỉ có thể chấp nhận Hội Thánh khi Hội Thánh chấp nhận họ. Chúng tôi phải gọi những người Jrai là người gì khi họ bị ép buộc cởi bỏ tất cả những gì là của họ để nhận những gì không phải là của chung Hội Thánh, nhưng chỉ có những cách thức suy nghĩ, ăn mặc, thờ phượng của người Hy Lạp, La Tinh, Pháp, Tây Ban Nha hay người Kinh? Điều này có thể đi xa, vì mỗi khi có một cộng đoàn mới bước vào, các cộng đoàn cũ phải đặt lại vấn đề, phải làm một cuộc kiểm thảo, nhiều khi thay đổi một vài chuyện, đôi lúc có thể phải tự làm một cuộc cách mạng để xem lại lòng tin của mình và những cách thức diễn tả lòng tin đó. Điều này thường xảy ra đều đều trong lịch sử Hội Thánh, khởi đầu từ Công đồng Jerusalem I ngày thời các tông đồ, và trước đó với vụ nhập đạo của gia đình Cornêliô. Lm. TÀI: Tôi tưởng cũng không nên quan trọng hóa vấn đề một cách quá đáng. Như chúng ta thấy, những khó khăn, hay những đụng độ có thể xảy ra giữa những cộng đoàn mới và cũ, chắc sẽ không phải là những đụng độ trong nền tảng của lòng tin, nhưng chỉ là trong cách diễn tả lòng tin: Đọc kinh cáo mình, người Jrai không đấm ngực, vì đối với họ đấm ngực là một cử chỉ kiêu căng phách lối. Ấy là chưa nói đến thói tục của con nhà có đạo chưa chắc đã hợp với đức tin thật. Một người Jrai đã ngạc nhiên phì cười khi nghe một tín hữu Bahnar nói phải giữ lại tấm khăn trắng ngày rửa tội để khi con nó đau ốm thì đắp lên cho nó. Thấy mấy người Kinh đứng nghiêm trang, miệng lâm râm trước một động đá, người Jrai hỏi: họ thờ đá hả? — Không đó là những tín hữu cầu nguyện trước hang đá Đức Mẹ. Tại sao cuối thánh lễ bằng tiếng Kinh linh mục lại nói: Lễ xong, anh em hãy ra về bằng an, còn trong tiếng Jrai lại nói: Chúa Kitô sai phái, anh em hãy ra đi, hãy lên đường? Những thắc mắc của bên này và của bên kia, như trên đã nói, những thắc mắc, những khó khăn đó thường thường thuộc về kỹ luật và cách diễn tả lòng tin. Theo nguyên tắc, những khó khăn như thế không đưa tới đụng độ. Công đồng quả quyết Thiên Chúa đã nói với loài người theo mẫu văn hóa của mỗi thời đại (Hiến chế Vui mừng và Hy vọng số 44 và 58). Các cộng đoàn Kitô giáo phải được trang bị bằng những kho tàng văn hóa của dân tộc mình (Sắc lệnh Sứ vụ Truyền giáo số 15 và 22). Đời sống của Kitô hữu phải hòa hợp với tinh thần và đặc tính của mỗi nền văn hóa (Sắc lệnh Sứ vụ Truyền giáo số 22). Vấn đề đặt ra là liệu tất cả các giáo hội phải rập khuôn theo một Giáo Hội Jerusalem, hay một Giáo Hội Rôma không? Sẽ chẳng có đụng độ nếu có những người bảo thủ như Jacôbê, vị lãnh đạo của một hội thánh bảo thủ như Hội Thánh Jerusalem mà lại có thể viết cho Giáo Hội Antiokia, Syri và Kilikia là những giáo hội mới do những nhà truyền giáo trẻ mang tên Barnaba, Phaolô thành lập, rằng: “Thánh Thần và chúng tôi quyết định không chất thêm gánh nặng nào cho anh em …” (Cv. 15,28). ĐMHCG: Như vậy, các cha tin chắc là sự gia nhập vào Hội Thánh của các dân tộc thiểu số với sắc thái đặc biệt của họ có thể làm cho Hội Thánh thêm giàu có phong phú và tươi trẻ thêm lên mãi?       Lm. MẦU: Không tươi trẻ thế nào được, khi những cộng đoàn mới đem theo vào Hội Thánh một lối suy nghĩ về đức tin riêng biệt của họ, một cách thờ phượng độc đáo. Họ đem đến Hội Thánh một sức nồng nhiệt phục vụ cho Thiên Chúa mà có lẽ các giáo hội cổ xưa đã dần dần đánh mất, một nỗ lực học hỏi tìm kiếm không ngừng mà các giáo hội lâu đời có thể đã quên mất khi tưởng rằng mình đã nắm chắc chân lý muôn thuở. Khỏi cần nhắc đến những tiến triển mà khoa thần học cũng như nhiều khoa học thánh khác đã có được nhờ những vấn đề hóc búa mà công việc truyền giáo, và các cộng đoàn mới đã nêu lên. Dĩ nhiên, khi nhận một người con mới vào trong gia đình, phải có những xáo trộn, những đau đớn… nhưng đau khổ sẽ đổi thành vui mừng khi thấy Nước Trời lại được thêm đông. Lm. TÀI: Thật ra xác tín đó không phải của riêng chúng tôi mà là xác tín của Hội Thánh. Hiến chế mục vụ Vui mừng và Hy vọng số 58,4 đã nói: “Kiên vững trung thành với truyền thống của mình, và đồng thời ý thức sứ vụ đại đồng của mình. Hội Thánh có thể thông hiệp với những nền văn minh khác nhau: đó là nguồn phong phú cho chính Hội Thánh và cho những nền văn hóa khác nhau”. Sắc lệnh Sứ vụ Truyền giáo còn nói: “Rập theo kế đồ Nhập Thể, các Hội Thánh trẻ (mới) một khi đã được đâm rễ sâu trong Đức Kitô và được xây dựng trên nền tảng các tông đồ sẽ thực hiện một cuộc trao đổi tuyệt diệu là hội nhập tất cả những sự phong phú của mọi dân tộc được ban cho Đức Kitô làm cơ nghiệp. Các giáo hội mới lấy từ nơi những phong tục và truyền thống, nơi sự khôn ngoan hiểu biết, nơi nghệ thuật và khoa học của dân tộc họ, tất cả những gì có thể đóng góp vào việc tổ chức đời sống Kitô hữu cho xứng hợp…” (Sắc lệnh Sứ vụ Truyền giáo số 22). Sự tự do của nhà truyền giáo và của các hội thánh mới đối với những cơ cấu cũ là một cơ hội cho Hội Thánh phá vỡ cái vỏ cứng ngắc của mình, lột xác để bộ mặt của Hội Thánh được luôn tươi trẻ.   Cheoreo, tháng 08 năm 1972 P.N.V ghi
Hạt Giống Kitô Trong Đất Jrai, phần 4 – Lm. Giuse Trần Sĩ Tín, DCCT 
 

 

CUỐN TÂN ƯỚC JRAI Kể từ tháng 10/1971, nhóm Dòng Chúa Cứu Thế cùng với anh em Jrai Cheoreo, Pleikly, Pleiku dịch cuốn Tân Ước trọn bộ qua tiếng Jrai. Cuốn sách được Đức Cha P. Seitz cho phép in tại Nhà Sách Đức Mẹ, 38 Kỳ Đồng – Sài Gòn – ngày 19/3/1973. Trong lời cuối, chúng tôi có viết bằng tiếng Jrai: Hết lòng tin tưởng Lời Chúa có quyền năng tác tạo và cứu độ chúng ta, vì thế chúng tôi đã cả gan dám dịch cuốn sách Tân Ước này sang tiếng Jrai, để người Jrai có thể nghe được chính tiếng Cha của mình, tiếng của Đấng đã yêu thương chúng ta từ trước khi tạo thành trời đất (Ep 1,4-5), Đấng ở rất gần mỗi người chúng ta (Cv 17,28), đã nhiều kiểu, nhiều cách, Người đã nói với cha ông chúng ta, nhưng vào thời cùng, nghĩa là ngay bây giờ, Người nói với chúng ta qua chính Con của Người (Dt 1,1-2). Việc dịch sách Tân Ước này, chúng tôi tiếp nối và chỉnh sửa những gì Cha Jacques Dournes đã khởi sự từ năm 1960. Khi dịch, chúng tôi cũng sử dụng Thánh Kinh Tân Ước của Lm Nguyễn Thế Thuấn (Nhà Sách Đức Mẹ, 1969), La Sainte Bible de l’Ecole Biblique de Jerusalem (Ed. Du Cerf, 1961), Holy Bible (Revised Standard Version, American Bible Society 1952), Novum Testamentum Graece et Latine (D. Dr. Erwin Nestle et Kurt Aland D. D., Stuttgart Privilegierte Wurttenbergische Biblelanstalt, 1957). Chúng tôi cố gắng dịch sao cho đúng với Sách Thánh, và cũng sao cho phù hợp với tiếng Jrai nữa. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng lực bất tòng tâm. Chúng tôi không phải là những người chuyên môn về Kinh Thánh. Chúng tôi chỉ làm việc theo khả năng nhỏ bé của chúng tôi thôi. Cho nên nhất định sẽ có nhiều điều chúng tôi suy chưa thấu, hiểu chưa tường. Chúng tôi xin tất cả những anh chị em cô dì chú bác, ai đọc sách này, thông báo cho chúng tôi những sai sót đó. Tất cả những gì quí vị muốn hỏi hay thông báo, xin quí vị viết cho chúng tôi theo địa chỉ như sau: 1. Nguyễn Đức Mầu hay Rahlan Sip, Sang Jơnum Kristô Cheoreo Phú Bổn. 2. Vương Đình Tài hay Rơchom Kê, Sang Maranatha, 51 Hùng Vương, Pleiku. 3. Trần Sĩ Tín hay Ksor Luông, Sang Jơnum Pleikly, Quận Phú Nhơn, Tỉnh Pleiku. Chúng tôi hết lòng cám ơn. Chúng tôi mong rằng trong mươi, mười lăm năm nữa sẽ có người dịch lại hay chỉnh sửa bản dịch này. Xin Thiên Chúa Cha, nhân danh Chúa Yêsu Kitô, thương cho dùng tạm cuốn sách này để nói với con cái Jrai ta, và sai Thần Khí của Người cho ta được hiểu biết, lắng nghe, tin và vâng theo Lời của Người. Nói mươi mười lăm năm sau xin dịch lại, mà từ 1973 đến mãi năm 2008 mới thực sự bắt đầu một bản dịch khác. Bản dịch 1973 tuy bất toàn, nhưng từ những năm 1985, người Jrai đã dùng bản dịch đó trong lòng tin để cầu nguyện, học hỏi theo Lời Chúa và họ đã đón nhận được muôn vàn ân huệ của Chúa. LÀM LINH MỤC GIỮA NGƯỜI JRAI Biết rằng trước sau gì người Cộng Sản cũng chiếm Tây Nguyên nên Trần Sĩ Tín xin được làm linh mục để sống trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Trước đó Trần Sĩ Tín chưa muốn làm linh mục, nói rằng khi người Jrai theo Đạo mới làm linh mục. Chẳng biết bao giờ người Jrai mới theo Đạo, còn việc Cộng Sản chiếm Tây Nguyên là rất gần. Và cũng biết rằng dưới chế độ Cộng Sản rất khó để có thể làm linh mục công khai, cho nên năm 1972, Trần Sĩ Tín xin Đức Cha Paul Seitz Giám Mục Kontum và Bề Trên cho được chịu chức linh mục, tại Cheoreo, giữa một cộng đoàn Jrai nhỏ bé. Để chuẩn bị cho Trần Sĩ Tín làm linh mục, anh em dịch lại Sắc Lệnh và những chú thích về linh mục của Công Đồng Vaticanô II, và lấy tựa đề là LINH MỤC, MỘT DỊCH VỤ. Cái tựa đề kỳ cục này lại làm cho nhiều người chú ý và hiểu ý muốn nhấn mạnh LINH MỤC LÀ MỘT CON NGƯỜI PHỤC VỤ. Thời ấy đường bộ duy nhất để vào Cheoreo Phú Bổn là từ Pleiku xuống. Con đường dài khoảng 100km, nhưng nhiều khi trong mùa mưa phải mất cả ngày mới tới nơi vì lầy lội và mùa nào thì cũng bị Việt Cộng gài mìn hay chặn đường, rất nguy hiểm. Phú Bổn cũng có một sân bay nhỏ có thế tiếp nhận phi cơ cánh quạt loại nhỏ. Đây cũng là con đường duy nhất cho một số nhỏ các vị đại diện Tỉnh Dòng, các chị Dòng Đức Bà, Dòng OFM, thân nhân từ Sài Gòn tới dự lễ. Đức Cha Paul Seitz đã tới phong linh mục cho Trần Sĩ Tín tại sân đất Trung tâm Dự Tòng +on Ama Djơng Cheoreo, ngày 08/12/1972. Không có ai chụp hình ghi lại biến cố này. Chỉ có bài hát HÀNH TRANG NGƯỜI TRẺ của Cha Mầu (Hoàng Đức) sáng tác trong dịp này là còn tồn tại cho tới ngày nay trong mọi cuộc sinh hoạt của giới Công Giáo Việt Nam, và có thể nói, trên toàn thế giới. Nhưng người hát cũng không biết rằng bài hát đó là để tặng Trần Sĩ Tín nhân ngày thụ phong linh mục, Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm 1972. Chiều hôm đó, tất cả các vị khách đều đi bộ, lên thuyền qua sông Pa để sáng hôm sau cùng Trần Sĩ Tín dâng Thánh Lễ mở tay tại làng Plơi Pa Ơi Briu. Sau một đêm ngủ nhà sàn không mền mùng, không nhà vệ sinh, chỉ có Cha Khoa, vị thừa sai của dân Kơho Djring, mới dám bô bô kể chuyện đi vệ sinh trong bờ bụi ngoài làng mà còn phải thủ một cành cây để xua đuổi mấy con heo ân cần hộ tống rình rập! Các vị khác, nhất là các chị nữ tu, không ai tiết lộ chi! Chuyện vệ sinh đó cũng là chuyện kiếp sống thừa sai, nên cho mọi người được biết. TRỞ LẠI PLEIKLY Qua năm 1973, anh em đã quyết định cho Trần Sĩ Tín về lại Pleikly một mình, để tiết kiệm xương máu, lỡ có chuyện đánh nhau như hồi 1971. Nhưng Trần Sĩ Tín còn phải về Sài Gòn sửa morasse cho bản in Tân Ước bằng tiếng Jrai, cùng với Ama H’Luí. Cha Tài được phân công ở lại Pleiku vì có những người Jrai Pleiku Roh, Plei Chuêt muốn xin theo Đạo. Cha Mầu được giám mục bổ nhiệm ở lại Trung Tâm Dự Tòng +on Ama Djơng, phụ trách các vùng Ayunpa, Krông Pa. Cha Phán dự tính đi +on Blek phía Nam vùng đất Jrai, giáp biên Rađê Buôn Mê Thuột. Nhưng trước đó ngài về Pleikly cùng với Thầy Quân sống và lao động với dân Jrai, ăn ở trong nhà chị Rmah H’Yin Plei Kia. Cũng trong năm 1973, Trần Ứng Tường, cùng lớp với Tín, Mầu, được bổ nhiệm nhập Nhóm Pleikly trước khi chịu chức linh mục. Trần Ứng Tường xin được ở Pleikly ba năm vì biết rằng mình không hợp với môi trường Jrai. Nhưng với biến cố 1975, Trần Ứng Tường phải ở lại Pleikly cho đến năm 1987, là năm Đức Giám Mục bổ nhiệm đi làm chính xứ An Khê. Sau khi chịu chức linh mục tháng 11/1973, anh em xin Cha Tường coi sóc người Kinh thuộc các nhà thờ Phú nhơn, Phú Quang, Mỹ Thạch. Biết rằng Trần Ứng Tường không thể ăn bờ ngủ bụi như Cha Phán, Thầy Quân, nên Phán, Quân, Tường đã sửa lại căn nhà “huấn nghệ” bằng gỗ ván làm nơi trú ngụ. Từ đó anh em không còn ăn ở với dân nữa. Cũng trong năm 1973, Tài, Tín, Mầu được Hội Thánh Kinh quốc tế mời đi học về phiên dịch Thánh Kinh một tháng tại Đà Lạt. Cha Phán cũng mời nhóm công tác xã hội của chị Oanh lên tập huấn cho Nhóm Pleikly và anh chị em Jrai. Qua năm 1974, Nhóm Pleikly tĩnh tâm cầu nguyện Thánh Linh với Cha Đinh Khắc Tiệu. Cả Tỉnh Dòng năm đó cũng tĩnh tâm theo hình thức đó. Nhóm Pleikly cũng tham gia một khóa năng động nhóm với nhóm chị Ánh, Dòng Đức Bà, tại Thủ Đức và bắt đầu làm phát triển cộng đồng tại Pleikly với dự án dân Jrai trồng đậu phụng do Cha Phán đồng hành và dự án các bà góa Jrai sản xuất than với Thầy Quân. Khi làm phát triển cộng đồng, dân Jrai mới thấy đất đai của mình bị người Kinh lấn chiếm quá nhiều. Người Jrai khởi kiện đòi lại đất trồng trọt. Thế là có tranh chấp với người Kinh. Người Kinh phá những lò than của các bà góa. Đồng thời lúc đó, ở các làng xa, chính quyền lại bắt dồn dân về, như Plei Đe Groi, Plei Kueng, đốt làng mạc của họ, ăn chặn tiền cứu trợ của họ, dồn họ về Phú Nhơn, làm cho dân Jrai vùng Pleikly Phú Nhơn càng thiếu đất canh tác. Thế là Nhóm Pleikly cùng với dân Jrai kiện chính quyền, đòi đền bù và đưa dân về làng cũ. BIẾN CỐ 1975 Tháng 03/1975, Cha Tài kêu gọi Phán, Tín, Mầu cùng nhau mở một tuần đào tạo cho những anh chị em Jrai nòng cốt tại Pleiku. Các đề tài bài vở đã được phân công. Mọi người đều sẵn sàng. Nhưng nghe Buôn Mê Thuột thất thủ. Anh em quyết định ngưng khóa đào tạo. Trần Sĩ Tín xin quay về ngay Pleikly vì sợ đường 14 bị ngăn chặn, chiếm đóng bất cứ lúc nào. Nguyễn Đức Mầu có việc phải bay về Sài Gòn ngay. Chỉ còn Vương Đình Tài và Nguyễn Văn Phán ở lại Plei Chuêt. Trong tuần trước ngày 17/03/1975, các phụ huynh của con em gửi học tại trường các Nữ Tu Phaolô tại Phú Bổn xin Trần Sĩ Tín lái xe từ Phú Nhơn đi đón các em về, vì nhà trường đã đóng cửa. Buổi sáng hôm đó, một mình một xe Jeep dân sự, Trần Sĩ Tín lái đi trên một con đường gần 90km vắng hue. Khoảng 1 giờ chiều, cùng vài em học sinh, Trần Sĩ Tín lên xe trở về Pleikly. Vừa ra khỏi Phú Bổn, Trần Sĩ Tín gặp một đoàn người bất tận, đi xe, đi bộ, từ phía Pleiku tuôn xuống, dáng vẻ hối hả sợ hãi. Không dám dừng xe hỏi han bất cứ ai, Trần Sĩ Tín chỉ chăm chú giành đường mà đi, một mình ngược chiều. May có một xe camion quân sự của một người cũng đi ngược chiều, chắc là để đón thân nhân. Trần Sĩ Tín bám sát chiếc camion cho đến tận ngã ba Mỹ Thạch, một quãng đường dài khoảng 58km. Dừng xe, quay đầu xe về phía Phú Nhơn, Trần Sĩ Tín hỏi bà con đang nối đuôi nhau chạy về phía Phú Bổn: “Bà con từ đâu tới và đi về đâu?” Họ trả lời: “Từ Pleiku, Kontum. 24 tiếng nữa là bỏ ngỏ cho cộng sản, sau đó là oanh tạc tự do!” Tôi nghĩ làm sao mà chạy theo con đường Phú Bổn rừng núi này được. Từ lâu đã chẳng có ai đi lại, kể như bỏ ngỏ cho cộng sản! Con đường chết! Nhất là khi binh lính đi chung với dân. Trong thánh lễ Chúa Nhật 17/03/1975, Trần Sĩ Tín đã can ngăn bà con giáo dân: “Anh chị em đừng chạy đi đâu cả. Tình hình này thì chạy đi đâu cũng thế. Tôi và Cha Tường sẽ ở lại.” Nhờ vậy mà dân Phú Nhơn không có ai chết trên con đường Phú Bổn. Tuy nhiên vẫn có những người ra đi. Cả ngày cả đêm thấy người ta cứ nườm nượp kéo nhau chạy đi làm họ càng hoảng sợ và bị lôi cuốn chạy theo. Nhưng dù sao những người Phú Nhơn này cũng chậm trễ phần nào nên không đi quá Phú Bổn. Quá Phú Bổn và ngay tại Phú Bổn người ta chết rất nhiều vì đụng độ giữa quân Cộng Sản và quân Quốc Gia. Binh lính Quốc Gia cũng còn bắn loạn xạ dành đường đi, dành xe cộ, dành vàng bạc… Mấy người chạy đi Phú Bổn đó, chính chúng tôi mấy ngày sau lại lấy xe đón họ về. Trong số đó người phải nói tới thứ nhất là Ông R]om Piơí, hai là Ông Nhưng (cũng gọi là Đạt). Sau ngày 17/03/1975, có khoảng trên 10 người Jrai Cộng Sản, phe Quốc Gia nhốt trên Pleiku, nay họ vượt ngục chạy về phía Pleikly, ban quân quản nhờ chúng tôi chở họ về Phú Túc. Thế là Trần Sĩ Tín có dịp đi Phú Bổn coi và chở những người Jrai từ Phú Bổn muốn trở lại Pleikly. Trần Sĩ Tín lái xe Landrover kéo theo thêm một rơ-moọc chở nhóm vượt ngục chạy tới qua Phú Bổn tới cầu Ia Rơbol thì xe không đi được nữa. Cây cầu đã bị mìn giật sập. Từ đây đến Phú Túc, đường vẫn còn xa, nhưng nhóm vượt ngục vẫn vui vẻ xuống xe đi bộ. Trần Sĩ Tín trở lại Phú Bổn chở đầy xe, đầy rơmoọc chật ních những người Jrai từ Phú Bổn về Pleikly. Đến Phú Thiện (Plei Athai) thì gặp gia đình Amí Ama H’Mi (R]om Piơí) đang đi bộ từ Cheoreo về Pleikly (80km). Ông là thiếu tá và thường giữ chức quận trưởng, quận phó, cho nên chúng tôi lo ngại cho sự an toàn của bản thân ông. Trần Sĩ Tín dừng xe và bảo ít là một mình ông lên xe, ngồi trên mui cũng được. Thấy xe chật ních, và không đành bỏ vợï con ở lại tiếp tục đi bộ, nên ông không lên xe. Ông nói ông đã có giấy phép của Cách Mạng cho về quê. Không thể thuyết phục được ông, nên chúng tôi đành bỏ ông ở lại. Đêm hôm đó ông bị chính quyền địa phương bắt, lập tòa án nhân dân và đâm chết ông. Tờ giấy của ban quân quản không bảo vệ được ông. Ông là một trong nhiều người phải chết sau ngày 17/03/1975. Ở Mỹ Thạch có ông Bính và ông Giáo cũng bị bắt và bị thủ tiêu. Ở Phú Quang có ông Minh cũng bị giết. Ở Plei Lao có anh Jú, sau ngày tập trung ngụy quân ngụy quyền, bị bắn vào chân. Anh được tha về làng. Nhưng ít ngày sau, anh lại bị một nhóm người tới bắt và bắn chết anh trong rừng. Còn trường hợp ông Nhưng (cũng gọi là Đạt) vốn là người Công Giáo. Gia đình ông từng tích cực giúp đỡ chúng tôi. Nhưng sau tháng 03/1975, ông tuyên bố bỏ đạo. Ông nói ông vào Đạo Công Giáo vì áp lực của chế độ Ngô Đình Diệm. Trước kia ông đã từng là xã đội trưởng phía Quảng Ngãi. Sau thời gian quân quản, ông được chọn làm chủ tịch xã Nhơn Hòa (Phú Nhơn). Ông rất ngiêm ngặt với ngụy quân ngụy quyền. Ông bắt họ đi cải tạo hết. Ông không kiêng nể các tín hữu. Nhưng ông tránh không làm khó dễ cho các linh mục. Đêm Phục Sinh 1975, lễ xong, khi giáo dân ra khỏi Nhà Thờ, có tiếng quát: “Đi đâu?” Trần Sĩ Tín nhận ra tiếng ông Nhưng. Ông thừa biết đêm nay là đêm Canh Thức Phục Sinh, nhưng ông vẫn lên giọng ra oai như thế. Trần Sĩ Tín lên tiếng: “Gì thế ông Nhưng?” Ông trả lời: “Cha đó hả?” Và ông ra lệnh cho du kích rút, không hạch hỏi giáo dân nữa. Không như trên vùng Pleiku: Các Nhà Thờ chỉ được phép cử hành lễ Canh Thức Phục Sinh trong vòng một tiếng vào giờ nhất định. Các linh mục đã giải thích với chính quyền rằng đêm Canh Thức Phục Sinh cần có nhiều thời gian hơn. Nhưng họ không chịu, nhất quyết chỉ cho phép trong vòng một tiếng mà thôi. Vì thế tại các Nhà Thờ Thăng Thiên, Thánh Tâm, Đức An… có nơi lễ mới tới Truyền Phép, có nơi mới tới Kinh Lạy Cha thì các linh mục phải dừng lại tuyên bố với giáo dân: “Đã hết giờ chính quyền cho phép, xin mời anh chị em ra về!” Giáo dân ngỡ ngàng, trách móc, nhưng rồi cũng phải bỏ dở ra về, không còn hiểu ra sao nữa! Sau đó linh mục tiếp tục Thánh Lễ một mình.  Sau 1975, còn có nhiều luật lệ khó khăn và khó hiểu nữa. Các linh mục không được hoạt động ngoài xã phường nơi mình cư trú. Các linh mục Pleiku, không ai tuân thủ lệnh này, cho dù nhiều khi bị bắt ra ngủ tại trụ sở xã, bị làm biên bản, bị phạt tiền… Riêng Trần Sĩ Tín bị bắt ba lần: Một lần khi cùng linh mục Thượng đi thăm Cha Huỳnh tại Phú Thọ (1981); một lần khi đi thăm Cha Phán tại Cheoreo (1985) và một lần đi thăm Cha Tài tại Plei Chuêt (1988). Cả ba lần bị du kích súng ống điệu ra trụ sở xã ngủ đêm không mùng mền, không giường chiếu, làm mồi cho muỗi. Lm Vương Đình Tài ở làng Plei Chuêt, cùng với một giáo dân Bahnar (ông Klưk) xin phép xã đi Kontum. Tới Kontum, đáng lẽ Cha Tài ở luôn tại làng của anh giáo dân thì có lẽ không sao. Nhưng vì nhớ anh em linh mục khác, nên Cha Tài đi thăm Cha Liên, lúc ấy làm Cha Sở Nhà Thờ Chính Tòa. Cha Liên giữ Cha Tài ngủ lại cho vui! Đêm hôm đó, công an xét hộ khẩu (chuyện thường xảy ra trước năm 2000) và bắt Cha Tài vì tội cư trú bất hợp pháp. Cha Tài bị nhốt, bị cùm, bị xích khoảng 10 ngày trong ngục Kontum. Trong thời gian đó công an tới Plei Chuêt và nói với dân làng, phần lớn là dự tòng: “Ông Tài đi rồi. Hết Đạo rồi. Bỏ Đạo đi. Trở lại sống như xưa đi!” Dân làng trả lời: “Tụi tôi đâu có Đạo với ông Tài! Tụi tôi Đạo với Chúa! Chúa vẫn ở với chúng tôi! Đạo vẫn còn! Chúng tôi vẫn Đạo!” Sau đó thì người ta cho cha Tài về lại Plei Chuêt. Đức Cha Paul Seitz và các linh mục ngoại quốc đều bị trục xuất khỏi Viêt Nam. Đức Cha Paul Seitz đã kịp phong Đức Cha Alexis Phạm Văn Lộc làm giám mục giáo phận Kontum. Các linh mục tuyên úy đều bị bắt đi cải tạo ít là 10 năm. Có Cha Nam, chẳng phải là tuyên úy, chỉ làm cha phó ở nhà thờ Thăng Thiên và đi quân dịch mấy tháng lúc còn làm thầy, cũng bị bắt đi cải tạo. Cho đến năm 1980, không có linh mục nào được ra khỏi giáo phận. Không được đọc kinh, dâng lễ ngoài nhà thờ. Các gia đình đọc kinh tối sáng đều bị hạch hỏi và làm khó dễ. Tại Phú Nhơn có ông Trung (Lê) và nhiều người khác, Kinh Thượng, được giao nhiệm vụ theo dõi và báo cáo mọi hành vi, lời nói của linh mục. Nhưng ông Trung nói: “Tôi không làm đâu. Tôi đâu có bỏ Đạo. Tôi chỉ nghỉ Đạo thôi!” Ông nói thế vì một thới gian dài, ông không đi Nhà Thờ, vì say sưa luôn. Trước khi chết ông đã được trở lại với Chúa. Trong những năm 1980-1990, tại Nhơn Hòa (Phú Nhơn) còn có cả một anh công an xã, sau khi anh này bị loại vì phe phái của anh không mạnh, anh đã thú nhận với bà con giáo dân rằng anh đã nhận được nhiệm vụ bắn cha Tín, coi như tai nạn hay bắn lầm. Nhưng anh nói anh không nỡ bắn. CÙNG DÂN LÀM LÚA ĐÔNG XUÂN Trở lại với ông Nhưng, chủ tịch xã Nhơn Hòa (Phú Nhơn). Năm 1976-1977, vì vụ lúa đông xuân chính quyền xã có “phát” mà dân không “động” nên ông giới thiệu Lm Trần Sĩ Tín làm phó ban lãnh đạo đông xuân của xã Nhơn Hòa, với lập luận rằng dân chịu nghe lm Trần Sĩ Tín. Lm Trần Sĩ Tín có nói với ông: “Ông đừng nói thế, vì nếu dân chịu nghe tôi thì sáu bảy năm qua họ đã theo Đạo nhiều rồi, nhưng đến bây giờ, đã có ai theo Đạo đâu.” Không biết tại sao huyện lại chấp nhận đề nghị của ông, và Trần Sĩ Tín được làm phó ban lãnh đạo đông xuân với ông Rahlan Rin, phó bí thư chi bộ làm trưởng ban. Gì thì gì, đảng viên luôn luôn là lãnh đạo chủ chốt. Tuy người lên kế hoạch và thực hiện vẫn là Trần Sĩ Tín, Dân địa phương, cả Kinh lẫn Jrai, chưa bao giờ làm vụ lúa đông xuân trên miền cao này. Dân Jrai không muốn làm lúa đông xuân vì sợ ruộng của họ không đươc khô ải trong mùa nắng, sẽ ảnh hưởng năng xuất của vụ chính trong mùa mưa. Trần Sĩ Tín phải đưa dân đi làm khai hoang, thủy lợi, để làm lúa đông xuân trong rừng, bên ngoài những cánh đồng của dân Jrai. Thường chiều thứ bảy Trần Sĩ Tín về để dâng lễ sáng Chúa Nhật với giáo dân, rồi chiều Chúa Nhật lại vào rừng để cùng bà con trong xã thay nhau đi làm khai hoang, thủy lợi. Năm 1976, công việc mục vụ không có bao nhiêu. Chỉ có khoáng 16 gia đình công giáo người Kinh. Bên người Jrai có gia đình Amí H’Xuân do cha Bianchetti thanh tẩy ở Ban Mê Thuôt, gia đình Amí H’Mi (của ông Rcom Piơí nói trên) và gia đình Amí H’Dar do Cha Tài thanh tẩy trên Pleiku. Lại có Cha Tường ở nhà lo mọi sự. Trần Sĩ Tín cả tuần cứ vào rừng lao động với dân. Ngoài giờ lao động là theo dân Jrai chài lưới với dân. Tối sớm nghe dân Jrai kể chuyện “akhan”. . . Nhờ thế mà mình biết dân, dân biết mình. Nhờ thế mà dân gắn bó với mình, mình gắn bó với dân.  Chúng tôi làm ở địa điểm dân Jrai gọi là “Kluh”, cách Nhơn Hòa chừng 12 cây số về phía tây. “Kluh” là một miền đất phẳng nằm giữa hai con suối lớn Ia Hlôp và Ia Ko. Khai hoang, dẫn nước về, là có thể có nhiều hecta đồng ruộng. Để làm thủy lợi, chúng tôi đã có ông “Hôn”, người Bahnar, làng Plei Lao hướng dẫn. Trong vùng, Ông Hôn và người Bahnar là những chuyên viên làm thủy lợi. Có ông Hôn thì dân chỉ cần đào con mương sâu tới quãng đầu gối là có nước chảy. Không có ông Hôn chỉ đường, có khi dân phải đào sâu quá đầu người mà nước vẫn không chảy. Sau một vụ đông xuân thành công, cả dân Jrai lẫn dân Kinh đồng tình đem cây lúa đông xuân về cánh đồng Pleikly, cánh đồng Plei Kia, cánh đồng Plei Thơh. Vùng “Kluh” chia cho các làng Jrai canh tác. Lúc này là lúc anh bí thư xãõ, lúc đó là anh Rmah Dă (người Kinh thường gọi là anh Tá, người Jrai quen gọi là Ama Greo), đến nói với Trần Sĩ Tín: “Trên nói là cho ông nghỉ lãnh đạo đông xuân, vì sợ ảnh hưởng tới việc đạo của ông.” Tôi nói lại với anh: “Anh thừa biết người ta không cho tôi làm lãnh đạo đông xuân vì người ta không tin tưởng tôi, chứ đâu có phải vì người ta sợ ảnh hưởng tới việc Đạo của tôi!” Trong khi đó tôi đã nghe người ta kể rằng trên huyện, ông bí thư Mẫn có nói trong một cuộc họp: “Yêu nước yêu dân gì cái thằng Tín ấy! Nó chờ thời đó!” Hồi đó tôi hay nghe các cán bộ gọi linh mục là thằng. Chính tôi cũng nghe ông bí thư Mẫn gọi Khổng Tử bằng thằng! Đúng là văn hóa Xã Hội Chủ Nghĩa.   LINH MỤC THỦ MÔN Tôi hết làm lãnh đạo đông xuân dù có lúc họ cũng đề nghị tặng bằng khen cho tôi nhưng khi họp thì huyện chỉ tặng một tờ giấy khen về việc “chống giặc châu chấu”, nhưng tôi vẫn dẫn dắt đội bóng của xã Nhơn Hòa. Người ta phát động phong trào thể dục thể thao ở xã. Mà xã chưa có đội banh, nhất là không có ai biết làm thủ môn cả. Thế là Trần Sĩ Tín xung phong. Cả một thời trung học đã làm thủ môn chín mười năm, nên cho dù đã rời sân cỏ gần 15 năm, lão tướng Trần Sĩ Tín là thủ môn số 1 của xã Nhơn Hòa và dẫn dắt đội bóng, đá với hết mọi đội tuyển khác từ xã, huyện tới tỉnh. Ai cũng phải công nhận không có thời nào bóng đá sôi động trong huyện như thời Trần Sĩ Tín. Độc đáo là linh mục làm thủ môn và dẫn dắt đội bóng gồm cả Kinh lẫn Jrai. Ngoài sân lại có linh mục Trần Ứng Tường, vốn rất mê bóng đá, cổ vũ và hò hét. Cũng vì bóng đá mà Cha Tường đi làm Cha Xứ An Khê như sẽ kể sau đây.     Trước 1975, tôi canh tác theo lối Jrai: phát đốt chọc trỉa. Sau 1975, tôi canh tác theo lối Cách Mạng của người Kinh. Cách Mạng chỉ đạo làm như vậy. Vì Cách Mạng toàn là người Kinh. Và đối với người Kinh, người Thượng tiên quyết là “lạc hậu”. Đài báo nào cũng nói như vậy. Thực ra người Thượng mới làm lúa nước từ thập niên 1950. Trước kia họ toàn làm lúa rẫy. Làm lúa nước, họ cũng làm theo lúa rẫy: phát đốt chọc trỉa. Mùa nắng chỉ làm sạch cỏ và đốt. Không cuốc, không cày, không bừa. Họ cùng chia ô, chặn nước, nhưng chỉ giữ nước trong ruộng khi cây lúa đã mọc được khoảng mười phân. Khi mưa đã đủ độ ẩm, tức là vào khoàng cuối tháng tư, đàn ông chọc, đàn bà trỉa. Đàn ông hai tay gậy bằng thứ cây cứng, vừa tay cầm, vót nhọn gọi là “gai mol” chọc những hàng lỗ ngay thẳng trên ruộng đồng. Đàn bà cầm ống nứa, bên trong đựng hạt giống, gọi là “đing jú”, cầm tay phải, đổ ra lòng bàn tay trái, và trỉa vào những lỗ đã chọc sẵn, lấp các lỗ bằng đầu “đing jú”. Họ làm theo tổ đổi công tự nhiên (pơblih, pơpliú, pơhua[). Cỏ mọc cùng với lúa. Họ sạc cỏ (jik) bằng những cái “wang” (một loại sạc-nai cán ngắn). Dưới ruộng, khi mưa đã thấm, họ chặn nước ruộng lại, họ dùng liềm không chấu cắt cỏ sát mặt đất. Cỏ bị ngập nước không mọc được nữa. Chỉ còn có cây lúa trong ruộng. Cái lối canh tác không cuốc, không cày, không bừa, thế mà lại phù hợp với môi trường Tây Nguyên. Khi người Kinh tới áp dụng lối canh tác đồng bằng cuốc cày bừa, thì chỉ sau vài năm, đất đai bị xói mòn vì độ dốc của núi đồi. Rẫy nương của người Thượng cũng không làm hại tới môi trường rừng núi, vì cứ ba bốn năm họ bỏ rẫy cũ, phát mọât rẫy mới. Và vì họ không cuốc, không cày lật đất nên đất không bị xói mòn, mà lại còn được nghỉ ngơi. Mười hai, mười lăm năm sau, cái rẫy, cái nương lại thành rừng. Chính vì vậy mà bao ngàn năm sau, rừng vẫn là rừng, sông vẫn là sông, suối vẫn là suối với độ phì nhiêu, với muông thú, cá mú và thảo mộc dồi dào. Người Kinh mới lên canh tác, gọi là theo kiểu văn minh tiến bộ, khai hóa cho người Thượng, mà không đầy mấy chục năm (ào ạt đợt một là năm 1954, ào ạt đợt hai là năm 1975…), toàn thể môi trường thiên nhiên và văn hóa Tây Nguyên bị xóa sổ, bị ô nhiễm, kéo theo nghèo nàn và tệ nạn cho người bản địa. Sau này trồng cây công nghiệp mang lại lợi nhuận nhiều hơn, nhưng cũng chỉ cho một số người Kinh, còn người Thượng phần lớn lạ lẫm, lạc lõng, không vốn liếng, cũng chỉ sống kiếp làm thuê, làm mướn trên chính mảnh đất bao đời của mình.     Thế là Trần Sĩ Tín cùng với bà con Jrai đi vào lối canh tác mới của cách mạng. Bỏ những giống lúa 06 tháng truyền thống thơm ngon như «pơdai gor, pơdai lao», đi gieo mạ, cấy những giống lúa mới 03 tháng. Sử dụng phân bón hóa học NPK và các thứ thuốc trừ sâu, gọi là thuốc “bảo vệ thực vật”, nhưng thực ra là đuổi hết cá tôm trong đồng ruộng và đem lại bệnh tật cho con người, lại đòi hỏi một khoản đầu tư mới mà dân Jrai không thể có, vì không có tiền. Mỗi sáng cùng với dụng cụ canh tác, Trần Sĩ Tín mang theo hai lon gạo (cho mình và cho người) đi theo tổ đổi công. Thức ăn kiếm ngay tại ruộng rẫy: có rau muống, rau tàu bay, rau sam, rau má, lá mì, nõn môn dại, “a[am ser, a[am bru]”… mọc tự nhiên (sạch thực sự), có dế, có chuột, cá lẻm (akan bluanh, akan se)… Vừa làm vừa kiềm cũng đủ một bữa. Lúc nông nhàn là kéo nhau đi săn bắt: săn thú, bắt cá bằng chài, bằng lưới. Trước 1980 trong rừng còn kỳ đà, ba ba, rùa, trăn, rắn, mang, chồn, heo, nai, cọp beo, bò rừng… ; dưới suối còn đủ mọi thứ cá lớn cá nhỏ từ phía sông Mêkông, cứ đúng mùa là kéo lên thượng nguồn sinh đẻ (Trần Sĩ Tín chỉ biết tên chúng bằng tiếng Jrai: akan nhet, akan tơi, akan pakke, akan kier, akan hơtam ă, akan pông, akan tih, akan kơnah rong, akan glah bao…) Sau 1980, tất cả hầu như biến mất. Chỉ còn chuột! Người Jrai sống bao nhiêu ngàn năm trên Tây Nguyên, cũng săn bắt, muông cá đâu có cạn kiệt ?! Một tín hữu người Kinh ở Ia Hrú đã nhận xét: Trong Sách Thánh có nói tới Vườn Địa Đàng, mình không mường tượng được Vườn Địa Đàng như thế nào; bây giờ nhớ lại mới thấy rằng núi rừng Tây Nguyên trước năm 1980 chính là Vườn Địa Đàng!. . .     Thế còn công việc “thừa sai” thì sao? Lạc quan thì sống với dân, làm với dân, và làm dân với dân cũng đã là thừa sai rồi! Đàng khác cũng chưa biết phải làm gì trong hoàn cảnh mới. Chế độ vô thần vừa thắng thế. Nói chuyện Đạo ngoài Nhà Thờ là mắc tội “truyền Đạo bất hợp pháp”. Theo Đạo là mất nồi cơm bát gạo, là mất công ăn việc làm, mất mọi quyền lợi (mặc dù hiến pháp nói rõ là không phân biệt). Ai dại gì mà theo Đạo. Có người còn dấu lý lịch Đạo nữa kia! Nhà Thờ Phú Nhơn rộng 6m, dài 4 gian 16m. Một gian làm phòng áo. Một gian làm cung thánh. Hai gian cho cộng đoàn. Thế mà lễ Chúa Nhật vẫn trống ghế, Nhà Thờ Phú Quang 5m x 9m: rộng rãi chán! Từ 1969 đến 1975, chiến tranh, chạy loạn, dân chưa nghe biết nhiều lắm về Đạo. Còn từ 1975 đến 1985 là như thế, là duy vật vô thần độc tài…

 

 

 

  1985 DÂN TÌM CHÚA Bỗng nhiên năm 1985, Năm Thánh Đức Mẹ chuẩn bị cho Năm Thánh 2000, mọi sự bắt đầu thay đổi. Năm 1985, bắt đầu có những người Jrai trở về từ những trại “cải tạo”. Họ là những người có “chữ nghĩa”, và vì có “chữ nghĩa” nên được “chế độ cũ” (còn gọi là “ngụy” hay “tay sai của đế quốc Mỹ) sử dụng làm công chức, phần lớn là công chức nhỏ thôi. Họ bị chế độ mới coi là nguy hiển vì là thành phần vừa “dân tộc” vừa “trí thức”. Số năm “cải tạo” của họ đều từ 10 năm trở lên. Tuy được “cải tạo” Xã Hội Chủ Nghĩa lâu năm như thế nhưng họ lại thay đổi theo một hướng bất ngờ: phần lớn họ đều trở lại Đạo Công Giáo ngay trong tù, điều mà trước năm 1975, trong chế độ “Mỹ Ngụy” bản thân họ và những người “cải tạo” họ đều không nghĩ tới. Những người Cộng Sản chiến thắng thì muốn họ giác ngộ Xã Hội Chủ Nghĩa. Còn họ trước đó, họ chỉ nghĩ làm giàu, hưởng thụ, ăn chơi theo kiểu Mỹ. Và họ cùng với “ngụy quân ngụy quyền” bị bắt đi “học tập cải tạo” (có thời còn gọi là “tẩy não”)  trong các trại kiểu “coulag” (lao động khổ sai) ở Nghệ Tĩnh.   Vào năm 1979 xảy ra chiến tranh biên giới giữa những người “anh em” Trung Quốc và Việt Nam. Các linh mục tuyên úy công giáo vốn bị nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa kết án là “tay sai của CIA” được đưa từ những trại cải tạo rất khắc nghiệt ở biên giới phía bắc về tập trung ở Nghệ Tĩnh. Chắc hẳn các vị tuyên úy cũng chẳng dám “truyền đạo” trong cảnh tù đày, thêm tội cho mình và nhất là thêm tội cho người. Nhưng trớ trêu là có  nhiều tù nhân xin học Đạo. Và lương tâm không thể từ chối. Ngay cả lúc được “tự do” trước kia, các ngài cũng không mơ được thanh tẩy nhiều người trưởng thành như thế. Trong số những người được thanh tẩy đó có nhiều người “dân tộc”. Trong số những người “dân tộc” có những người Jrai vùng Pleikly như Ama H’Vina (cha của gái H ‘Vina) chẳng hạn. Amí H’Vina từ  năm 1975, trong khi chồng đi cải tạo, thì chị đi nhà thờ. Có lần chị ngỏ ý xin chúng tôi hướng dẫn cho chị và các con được lãnh nhận các Bí Tích nhập đạo. Nhưng chúng tôi nói chị phải chờ chồng chị đi cải tạo về đã, xem anh ấy có đồng ý hay không. Khi Ama H’Vina từ trại cải tạo trở về năm 1984, anh ấy đã được thanh tẩy trong tù. Trong khi những người khác được thanh tẩy trong tù về tới nhà sợ không dám đi nhà thờ, Ama H’Vina điềm nhiên đi lễ hằng tuần. Dĩ nhiên anh bị cảnh cáo: “Mới đi cải tạo về, chưa có quyền công dân mà đã đi nhà thờ”! Ama H’Vina trả lời: “Đây là việc riêng của tôi. Chúng tôi đã được học tập rõ ràng: ai cũng có quyền theo hay không theo một tôn giáo. Không ai có thể cấm tôi, miễn sao tôi không làm gì hại dân hại nước…”  Sự tự do nào thì vẫn phải đấu tranh mới có. Nhiều khi là phải đấu tranh với chính mình. Như ở Việt Nam trên giấy tờ vẫn có tự do tôn giáo. Nhưng trong thực tế lại có rất nhiều áp lực kiểu những người Công Giáo như Ama H’Vina phải hứng chịu. Còn có những áp lực nặng nề hơn nhiều, như có một thời những con em Công Giáo khó có thể được học hành cho tới đại học. Ngay tới lần sửa đổi Hiến Pháp mới đây nhất (1992), mấy từ “ tôn giáo” mới được thêm vào để có câu “tự do tín ngưỡng tôn giáo”. Trước chỉ có “tự do tín ngưỡng” thôi. Ngay lúc này, những người Công Giáo cùng thôn cùng làng không được qui tụ nhau đọc kinh cầu nguyện. Nhà nào đọc kinh cầu nguyện ở nhà đó thôi. Đạo chỉ là chuyện riêng tư, Đạo chỉ là Đạo Nhà Thờ, vẫn bị coi không có tính xã hội. Vì thái độ rõ ràng và can đảm của Ama H’Vina như thế, nên đến Mùa Phục Sinh năm 1985 gia đình anh gồm vợ chồng và ba đứa con được lãnh nhận các Bí Tích nhập Đạo. Cùng với gia đình anh còn có hai người Jrai khác, trong đó có anh Ama Tinh (Kpuih Tum) kiên trì đi nhà thờ suốt hơn 10 năm. Năm 1986, có ba người làng Plei Kia lãnh nhận các Bí Tích Nhập Đạo. Năm 1987, có 72 người thuộc các làng Plei Djrêk, Pleikly, Plei Kia lãnh nhận các Bí Tích Nhập Đạo. Đây là ba làng chúng tôi quen biết và ra vào được từ 1975. Khi họ ngỏ lời xin theo Đạo, từ hai ba giờ sáng Trần Sĩ Tín  đi bộ tới một nhà trong làng, đọc Lời Chúa và cầu nguyện với họ. Trần Sĩ Tín được sống bầu khí của Hội Thánh tiên khởi, khi các tín hữu qui tụ nhau cầu nguyện trong các tư gia. Chúng tôi hẹn nhau ở nhà bà này, ở nhà ông kia (Cv 12,12). Năm 1987 có ba sự kiện quan trọng: Một là Cha Tường đổi đi làm Chính Xứ An Khê – hai là tôi rời bỏ lao động ruộng nương – ba la kêu Thầy Quân trở lại Pleikly. CHA TƯỜNG ĐỔI ĐI AN KHÊ     Từ khi Cha già Ngọc chết vì đột quỵ giữa lúc ngồi tòa giải tội tại An Khê (1980), Đức Cha Alexis đã muốn một trong hai anh em chúng tôi (Tín, Tường) phải đi coi xứ An Khê. Không lý do gì trong lúc khan hiếm linh mục này mà ở Phú Nhơn vốn ít giáo dân mà có tới hai linh mục. Đức Cha lập một danh sách ba người: Lm Nguyễn Tấn Đường, Trần Sĩ Tín, Trần Ứng Tường. Cha Đường đã già nên ngài chắc chính quyền sẽ chọn Trần Sĩ Tín hay Trần Ứng Tường, vì ngài cần một linh mục tương đối trẻ ở An Khê. Khi được Đức Cha hỏi ý kiến, hai chúng tôi đều trả lời: Đức Cha bảo đi thì vâng lời mà đi thôi, chứ ý chúng tôi đều không muốn đi coi xứ. Nhưng bất ngờ chính quyền lại chọn Cha Thiệp, ngoài danh sách đề nghị, làm cho có người nghi ngờ Cha Thiệp đi đôi với Nhà Nước. Thực sự không có. Thời đó Nhà Nước độc đoán như thế. Cha Thiệp về quản xứ An Khê được hai năm thì bị ung thư máu qua đời. Lại phải mất vài năm xin xỏ với chính quyền. Đức Cha vẫn đề nghị danh sách cũ. Mãi tới giữa năm 1987, không hiểu tại sao, cha Tường đi Pleiku coi đá banh, trùng hợp có cả ông câu An Khê cũng đi coi đá banh với ông công an tỉnh đặc trách tôn giáo để vận động ông này mau chóng chọn cho An Khê một linh mục chính xứ. Ba người không hẹn mà hò đều gặp nhau tại sân vận động Pleiku. Cha Tường thì rất vui vẻ hoạt bát. Thế là sau đó ông công an phán: Ông Tường làm cha xứ An Khê được đó! Đến tháng 09/1987, cha Tường khăn gói đi An Khê. Ở Pleikly chỉ còn lại một mình tôi, Trần Sĩ Tín. Tôi tin vào sự quan phòng của Chúa. Tất cả tùy thuộc ở chính quyền độc đoán. Nếu là tôi phải đi An Khê, và cha Tường ở lại Pleikly thì khi người Jrai trở lại hằng chục ngàn ở khắp các buôn làng, ai biết tiếng Jrai để tiếp đón và hướng dẫn họ? Cha Tường đã xin Ban Quản Trị Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế cho lên Pleikly ba năm và cũng đã nhất trí với anh em là chỉ phục vụ người Kinh chứ không thích hợp để phục vụ người Jrai. Tới Pleikly năm 1973, năm 1975 bị kẹt luôn ở Pleikly, tiếp tục phục vụ anh chị em người Kinh tại Mỹ Thạch, Phú Quang, Phú Nhơn. Nên tới năm 1987, cha vẫn không nói tiếng Jrai. Từ chỗ là người Hà Nội thuần túy, không biết đến cây đậu phụng, cây bắp, sau những năm sống tại Pleikly, cha đã trở thành người làm nông chân chính. Cha Tường đi rồi, Trần Sĩ Tín phải tính đến chuyện kêu mẹ lên coi sóc việc trong nhà, kêu thầy Quân về giúp người Kinh và dự tòng Jrai vì thầy biết tiếng Jrai và chuyện tôi rời rẫy nương. Nhưng trước hết phải kể chuyện Chúa chữa lành cho Trần Sĩ Tín khỏi bệnh và tật. KHỎI SỐT RÉT Số là từ năm 1971, sau khi bị bắt cải tạo trong rừng sâu về, Trần Sĩ Tín thường xuyên bị sốt rét cho đến năm 1987. Ai ở Mỹ Thạch, Phú Quang, Phú Nhơn cũng đều biết rõ. Ai đã từng bị sốt rét thì biết những cơn sốt rét diễn biến và dằn vặt bênh nhân như thế nào. Mười sáu năm sốt rét, Trần Sĩ Tín  gầy gò, ốm nhách, đen đủi. Đã uống đủ thứ quinine, falsidar, chloeoquine mà không khỏi. Hôm đó là tháng 08 năm 1987, Trần Sĩ Tín mang chài đi đánh cá một mình. Chưa tới suối Ia Hlôp thì lên cơn sốt rét. Trần Sĩ Tín phải tạt vào một cái chòi trong rẫy của Ama Nhơp nằm rên. Rên với Chúa Thánh Thần: “Lạy Chúa Thánh Thần, Chúa là Đấng chữa lành. Con sốt rét thế này thì không làm gì được. Chắc chết thôi. Bây giờ người Jrai bắt đầu trở lại. Chỉ có con là biết tiếng Jrai thôi. Nều Chúa thấy con xài được thì xin Chúa chữa lành con. Còn nếu Chúa thấy con không xài được, thì xin Chúa ban cho con được ơn chết lành…” Cơn sốt chấm dứt. Và từ đó đến nay (2009), Trần Sĩ Tín không hề bị sốt rét hay cảm cúm phải nằm liệt giường tới một ngày. Từ đó Trần Sĩ Tín bỏ chài bỏ lưới, bỏ ruộng, bỏ nương, chỉ đi phục vụ Lời. Cùng với bệnh sốt rét, cũng trong thời gian đó, Chúa còn chữa Trần Sĩ Tín khỏi tật hút thuốc và uống rượu.   HẾT HÚT THUỐC Trần Sĩ Tín hút thuốc lá từ học viện. Thời trước chúng tôi, học viện không có hút thuốc. Đến thời chúng tôi, không biết tại sao lại cho hút thuốc, hay nói đúng hơn là mỗi người phải tự quyết định lấy điều gì tốt nhất cho mình. Mấy bà chị họ tôi (Phương Liên) lại tiếp tế cho Trần Sĩ Tín toàn loại thuốc Salen và Pall Mall. Lên tới Pleikly, Mầu và Trần Sĩ Tín vẫn tiếp tục hút thuốc. Càng hợp thời vì Jrai ai cũng hút thuốc hay ăn thuốc. Chỉ có cha Tài sợ hút thuốc vì thời học viện ông đã bị bệnh phổi. Ông bèn mách với Đức Cha Kim (P. Seitz): “Mấy tên Tín Mầu còn trẻ mà hút thuốc quá!” Đức Cha Kim hỏi lại: “Thế anh không hút thuốc à?” Cha Tài dứt khoát: “Không bao giờ!” Đức Cha Kim bèn phán: “Thế là mất nửa đời người rồi!” Vì Đức Cha cũng hút thuốc. Chỉ có mùa Chay là ngài gác tẩu. Chúng tôi cũng xin Đức Cha cho chúng tôi hút tẩu cho giống người Jrai. Thế là từ đó Đức Cha thường xuyên tiếp tế thuốc hút cho Tín Mầu. Toàn là thứ xịn: thuốc hút tẩu “seventy nine”, những điếu xì-gà to bằng ngón chân cái, hút một lóng tay đã say, những điếu xi-gà “Havatampa” thơm phức. Từ năm 1973, em gái cha Tường lại thường xuyên tiếp tế cho ông anh loại 555 thứ thiệt. Đến năm 1975, các nguồn tiếp tế ấy đều bị bế tắc. Lúc bấy giờ có nhiều loại thuốc giả, không hút được, mà cũng chẳng có tiền để mua. Chúng tôi chuyển qua hút thuốc lào. Em rể Trần Sĩ Tín là dân Thái Bình chuyên sản xuất loại thuốc lào 333 “êm, say, phê” và lại thường xuyên tiếp tế cho tụi tôi! Chúng tôi sắm một cái điếu cày thật ngon. Thế là sớm tối và những lúc “buồn mồm” là “rọọọọc” một hơi: đã! Có buổi sáng, cha Tường ngạc nhiên thấy mình bươu đầu, nằm dưới sàn xi măng, miệng lẩm bẩm: “Rõ ràng hút xong là mình ngả lưng trên võng cơ mà!” Nhiều anh em giáo dân cũng xin hút ké, nhưng đều bị lăn cù! Đến năm 1987, Trần Sĩ Tín cứ thấy đau đầu. Có anh y tá nói: “Cha đi khám bác sĩ đi. Có thể bị huyết áp rồi đó.” Y như rằng, bác sĩ cho biết Trần Sĩ Tín bị huyết áp cao. “Ông có uống rượu không?” – “Có thì uống.” – “Từ nay không được uống rượu nữa!” – “Ông có hút thuốc không?” – “Có, nhưng hiện nay tôi chỉ hút thuốc lào thôi.” – “Càng không được!” Và bác sĩ viết vào toa thuốc: cấm hút thuốc! Nói như Đức Cha Kim: thế là mất nửa đời người rồi! Tôi không khó khăn gì để bỏ hút thuốc. Và khi lỡ sa cơn cám dỗ mà hút một điếu nào, thì chỉ cần rít đến lần thứ ba là ho, không tiếp tục được. KHỎI UỐNG RƯỢU Cho đến học viện, Trần Sĩ Tín không biết uống rượu. Chỉ một chai bia nhỏ 33 là đã say rồi. Nhưng khi tới Pleikly, người ta bảo: không uống rượu là không làm bạn được với người Thượng, có khi còn xúc phạm tới họ nữa khi mà họ mời mà từ chối. Thế là Trần Sĩ Tín tập uống rượu, trước là rượu cần, sau chơi luôn cả rượu đế. Ban đầu uống đâu say đó. Say là lăn ra ngủ, bất cứ chỗ nào. Uống ngày, uống đêm, tiếng Jrai gọi là phar dah: thâu đêm suốt sáng! Vì người Thượng khi uống rượu không còn biết thời gian nữa. Cũng có những “mánh” để đỡ say. Khi đã đến phiên ta cầm cần uống rượu, ta toàn quyền ngồi đó cà kê dê ngỗng chuyện trò (có người cho đó là một nét văn hóa) miễn là ta uống đứt kang (tơi’ kang: hết mức đã được ấn định bằng một que tre đặt trên miệng ghè). Càng uống chậm càng ít say. Cũng vì được tự do hàn huyên mà còn có một “mánh” nữa để khỏi say. Vì được kính nể hay yêu mến, người ta thường dành cho ta một hay hai ghè rượu ngon nhất, cũng có nghĩa là mạnh nhất, dễ say nhất. Trước khi ta uống, ta có quyền mời tất cả mọi người nếm rượu (từ chuyên môn gọi là =op, chưa phải là mơ[um uống) dành riêng cho ta. Nên mời càng nhiều người càng tốt, cho bớt cái nước đầu rất mạnh. Khi ta đã cầm cần làm nhiệm vụ uống kang đầu tiên, ta nhắp nhắp, rồi ta kể chuyện, chuyện nào thật hấp dẫn, thật sôi động, thật dài. Nếu trước đó ta đã uống chút ít, ta làm bộ say sơ sơ, để huyên thuyên, kiểu rượu vào lời ra. Làm sao cho thính giả không chú ý đến ghè rượu, và mất cảnh giác. Lúc đó ta cứ từ từ, từng tí một, rút cái cần lên. Ta vẫn thỉnh thoảng uống một ngụm. Cho đến khi nào ta thấy nước lã nhiều hơn chất rượu, ta ung dung hút nhanh hơn, cho đến khi gần tơí kang, ta ấn cái cần xuống tận đáy như lúc ban đầu, ta hút một hơi, khà một tiếng và tuyên bố: tơí kang laih! Chủ xị tới kiểm tra và công nhận là ta thoát! Anh chủ xị phải coi nhiều ghè lắm, không sợ anh ta phát hiện, mà sợ những người ở gần ta. Dĩ nhiên ta phải hết sức khôn khéo, đóng kịch thật nhuần nhuyễn, nếu bị phát hiện là bị phạt không biết bao nhiêu kang. Mà cái thứ rượu đã mạnh thì chỉ một kang thôi đã đủ “gục” rồi THẢNH THƠI PHỤC VỤ Sở dĩ nói Chúa chữa tôi khỏi tật uống rượu và hút thuốc là bởi vì không có gì thuyết phục tôi bỏ mấy cái tật đó nếu không có kèm theo những bệnh như huyết áp và đường tăng. Được giải thoát khỏi bệnh và tật, tôi có nhiều thời giờ hơn, thanh thản hơn để được phục vụ theo tiếng gọi của dân Chúa. Dĩ nhiên không phải một mình tôi làm được tất cả. Chúa cũng ban cho có nhiều cộng tác viên, nhiều người đồng hành. Trước tiên luôn luôn là anh chị em giáo dân Jrai và Kinh. Họ là dân, ở trong, ở giữa và ở cùng dân. Và nói theo Cha Phêrô Nguyễn Văn Đông: “họ làm hơn cả linh mục nữa”. Họ loan báo Tin Mừng, linh hoạt các giờ cầu nguyện trong làng, cầu nguyện cho người đau yếu bệnh tật, người hấp hối, họ hướng dẫn giáo lý các cấp từ khai tâm dự tòng cho đến thanh tẩy, xưng tội, rước lễ, thêm sức, hôn phối. Việc bồi dưỡng học tập cho họ hằng tuần, hằng tháng, hằng ba tháng ở mỗi giáo điểm là rất quan trọng. Vì tuyệt đại đa số họ là những người nghèo, bình dân, ít học, phục vụ cho dân làng cũng là những người nghèo, bình dân, ít học (đa số còn không biết chữ) nên bồi dưỡng học tập cho họ cũng là cùng họ cầu nguyện: cầu nguyện là học, học là cầu nguyện – xin Chúa ban cho những gì mà Ngài bày tỏ. Chúng tôi sẽ cống hiến một số chứng từ của họ.     Nhưng có năm người cộng tác gần gũi nhất, lâu dài nhất, trước khi anh em Dòng Chúa Cứu Thế có thể lên hoạt động trên Tây Nguyên (kể từ sau năm 1975). Đó là Thầy Quân, Cô Liên, Cô Diễm Ly,Cô Bảy Ấn và Bs Vinh.                     THẦY QUÂN QUAY TRỞ LẠI     Xin trích chứng từ của chính Thầy: Tôi là Phêrô Hồ Văn Quân, sanh ngày 24/09/1937 tại ấp Long An, Xã Long Phú, Quận Long Mỹ, Tỉnh Rạch Giá. Tôi lớn lên thời chiến tranh đầy lo âu sợ hãi. Hồi nhỏ tôi được đi học trường Họ Trà Lòng do các Nữ Tu Dòng Chúa Quan Phòng dạy. Tới năm 1951, vì muốn đi Chủng Viện, nên tôi phải trốn tránh rời khỏi quê và theo Cậu là Thầy Jean Dòng Thánh Gia Banam đi học nơi cậu dạy là Kon Pong Cham. Cũng tại đây tôi được chịu phép Thêm Sức ngày 22/04/1951 do Đức Cha Joseph Chapalier, giám mục Nam Vang. Từ năm 1952-1956, tôi về Banam học chuẩn bị vào Đệ Tử Dòng Thánh Gia. Nhưng bị đau bệnh quá nên phải trở về Việt Nam. Khỏi bệnh, tôi muốn vào dòng khổ tu, nhưng nội tôi không cho vì thấy tôi yếu quá. Sau đó tôi xin vào Dòng Chúa Cứu Thế tại Sài Gòn. Khi vào Dòng Chúa Cứu Thế, tôi lại rất khỏe, lao động tốt. Đến ngày 17/03/1958, tôi được đi Đà Lạt vào Nhà Tập. Cha Giáo Tập là Cha Camille Dubé, Cha Phó là Cha Andrê Nguyễn Quang Kiêm. Trong năm Nhà Tập, nhiều lần chúng tôi được đi dạo vùng Blao và Phi-Yang. Có lần cha giáo tập hỏi ai muốn đi Phi-Yang. Tôi giơ tay xung phong vì tôi thấy người Thượng thật đáng thương, tuy các Thầy Già nói ở đó rất nguy hiểm. Tôi khấn dòng ngày 19/03/1959 thì ngày 21/03/1959 tôi được phân công đi Phi-Yang. Tôi tới Phi-Yang ngày 22/03/1959 ở với Cha Antoine Lapointe và Thầy Nicôla Đền. Thầy Nicôla Đền lo tổng quát, còn tôi đi phá rừng với anh em dân tộc để học tiếng. Khi Cha Benoit thay thế Cha Lapointe đi nghỉ ở Canada, tôi xin ngài cho tôi tiếp tục học tiếng, thì ngài nói  bắt buộc phải học tiếng. Sau đó tôi được phân công về trung tâm vừa dạy tiếng Việt cho các em dân tộc vừa làm giám thị. Vào năm 1962, chiến trận lây lan, công việc mệt nhọc là di dân về chỗ an toàn. Tập trung về một điểm như ở Dà Mpao thì lại xảy ra bệnh tật như ỉa chảy và sởi nơi trẻ em. Người thượng lại không biết kiêng cữ. Cho nên tôi vừa phải đưa các em đi nhà thương vừa phải đưa các em đi chôn. Có ngày tôi phải chôn tới 10 em. Rất khổ tâm. Tôi chịu không nổi muốn xin nghỉ một chút, nhưng các cha nói: Thầy nghỉ, ai lo? Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt, chúng tôi càng ngày càng lao đao với dân. Một địa điểm tập trung lớn là Srê Dờng (bao gồm dân Bơtong, Kềng Dà, Ryông Tô, Phi Sur) trở thành bãi chiến trường và bị xóa sổ (1968). Cha Tài, từ 1960 ở Phi Yang rồi Koya, Liên Khương, Srê Dờng, kiêm Dà Mrac, Nreng, Kon Pang, Kon Phang, Atô, đến sau Phục Sinh 1969, ngài rủ tôi đi tìm một chỗ mới cho đàn em sau này. Tôi đồng ý ngay. Những gì tiếp diễn sau đó, phần lớn anh em đã biết, tôi không kể lại chi tiết ở đây. Tôi chỉ có thể nói là tôi tin Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng tôi từng bước và Pleikly là Đất Hứa, vì Chúa đã “làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay dám nghĩ  tới.” (Ep 3,20) Tới Pleikly ngày 10/10/1969, chúng tôi cùng ở trong căn phòng dành cho dê vì không có chỗ ở trong nhà nào cả. Chúng tôi cùng đi làm và đi học tiếng với dân. Đến Giáng Sinh năm đó chúng tôi dọn qua một căn nhà sàn cất tạm xong trong Pleikly. Tôi và anh Tín thường cùng đi làm ruộng làm rẫy với dân. Năm 1970, Cha Tài mua một máy cày tay hiệu Kubota cho hai anh em tôi làm nông, mục đích thử nghiệm xem có thể sử dụng cho anh em Jrai không. Chúng tôi cày thử trên đất rẫy đến đầu năm 1971 thì thử nghiệm trên đất ruộng. Chúng tôi thấy cần phải cải tiến nhiều mới sử dụng được cái máy cày tay đó. Nhưng chưa kịp cải tiến thì xảy ra chiến sự tháng 03/1971. Tôi chạy thoát còn Thầy Đàn, Mầu, Tín bị bắt đem vào rừng. Bề Trên cho tôi ở nhà Huế. Năm 1972 gặp “mùa hè đỏ lửa” lại chạy về Đà Nẵng, rồi chạy vào Sài Gòn và về Vĩnh Long giúp Đệ Tử. Đến năm 1973, tôi trở lại với anh em ở Pleikly. Thời này theo sự hướng dẫn của Cha Phán, tôi cùng với anh em lập ra những tổ sản xuất. Riêng tôi phụ trách tổ các Bà Góa làm lò than. Khi lập các tổ sản xuất Jrai thì gặp sự tranh chấp đất đai với người Kinh. Lò than các bà góa chúng tôi bị người Kinh phá. Chúng tôi lại còn phải đấu tranh  cho quyền lợi của bà con Jrai bị cướp xén đồ viện trợ, bị dồn vào những khu vực cằn cỗi thiếu thốn, bị xâm phạm tài sản…  Chính Quyền lúc đó cuối cùng phải nhượng bộ và chính tôi đã đưa những người bị “dồn dân” trở về làng cũ. Sau năm 1975, mọi sự đều như bế tắc và vô cùng khó khăn. Ai cũng sống trong lo âu. Điều đó khiến sức khoẻ tinh thần và thể xác tôi sa sút. Tôi tìm về quê Sóc Trăng trị bệnh và nương tựa lúc khó khăn vì ở quê tôi quen nhiều người hơn, hy vọng sống thanh thản và dễ dàng hơn. Nhưng rồi cũng nảy sinh nhiều khó khăn khác. Cha tôi tuy quen mà vẫn phải năn nỉ ông Chủ Tịch  có việc chi cho tôi làm trong khoảng thời gian 3-4 tháng. Lúc đầu Ông cho tôi vào giúp anh kinh tài ấp. Ông cho tôi đi học khóa thống kê chỉnh lý bản đồ và đi các xã của huyện Thạnh Trị để chỉnh lý bản đồ huyện. Lúc đó tôi thấy nhẹ thở đôi chút. Xong việc trở về xã thì họ phân công tôi làm tài chánh xã. Lúc đó các linh mục đi lại còn rất khó khăn. Trong khi tôi được tự do đi lại hơn, nên tôi đến được nhiều ấp Công Giáo củng cố đức tin cho họ. Cha tôi thấy ruộng đất họ chia ra hết nên tính lên miền đông kiếm đất cao phá rừng làm vườn để dưỡng già. Năm 1982, gia đình lên xã Phú Lý kiếm đất. Đất đồi sỏi đá chỉ trồng chuối và mì. Đất trũng khai phá làm ruộng. Đến năm 1983, Cha tôi mua được một cái nhà ở Phú Dòng để cho mẹ tôi và cháu Thịnh ở cho nó đi học. Phần đất ở xã Phú Lý nhằm ngay lòng hồ Trị An, nên đến năm 1985 phải di tản. Trong thời gian đó, tôi vẫn ở lại làm việc ở xã. Cơm ăn trộn mì tối đa. Mấy lần tôi cũng đấu tranh đòi quyền lợi cho dân nhưng không thành công. Tôi xin nghỉ việc. Họ không cho. Tôi cũng có liên lạc với anh em trong Dòng ở Vĩnh Long, Cái Tàu. Đến năm 1984, tôi đào nhiệm lên Phú Lý giúp cha mẹ. Ở dó có Thầy Hội đang phục vụ. Nam 1985, tôi bị đau gan siêu vi B phải về Sàigòn nằm bệnh viện Chợ Quán có Cha Giám Tỉnh Thao giúp đỡ. Đến năm 1987, tôi lại phải vào bệnh viện Chợ Quán vì sốt rét. Sau khi ra viện thì cha tôi qua đời, Tôi về sống với mẹ và các em, đi bán sinh tố kiếm tiền để giỗ 100 ngày cho cha tôi.   Tôi thấy Chúa thương tôi vô cùng. Qua bao nhiêu năm tháng chỉ có hai bàn tay trắng, Chúa vẫn dưỡng nuôi chúng tôi. Sau khi cha tôi qua đời, Nhà Dòng bảo tôi dẫn anh em đi Pleikly thử. Tôi lên Pleikly thấy anh chị em Jrai ồ ạt trở lại trong lúc tình hình vẫn rất khó khăn. Tôi xin anh Tín gửi cho cha Bề Trên ít chữ cho tôi được trở lại Pleikly. Để chia sẻ gánh nặng với anh Tín nên ngày 29/11/1993 tôi nhận chức Phó Tế vĩnh viễn. Tôi vừa trông coi nhà cửa vừa hướng dẫn giáo lý dự tòng và hôn nhân cho cả Kinh lẫn Thượng. Tôi cũng tham gia thanh tẩy cho người lớn  và trẻ em. Tạ ơn Chúa và Nhà Dòng vô cùng, vì tôi học hành chẳng có gì, sức khoẻ chẳng được bao nhiêu mà Chúa lại ban cho tôi các ơn rất trọng đại, nhất là ơn được anh chị em Jrai cho tôi được tin vào Chúa Quan Phòng.   (Còn tiếp … mời xem phần 6) Lm. Giuse Trần Sĩ Tín, DCCT