50 NĂM CHA LÊN RẪY (Kỳ 2) – CHEOREO

  1. 1. Phương pháp truyền giáo của cha Jacques Dournes

Cha Jacques Dournes là một nhà nhân chủng học lớn và độc đáo trên thế giới. Bởi thế, phương pháp truyền giáo của cha mang đậm yếu tố đó.

  1. a.     Hội nhập nhân chủng học

Cha đào sâu yếu dố cấu trúc tâm thức tôn giáo, xã hội, nhân chủng của cư dân Jrai, để như tìm dấu vết mạc khải hay các phần chuẩn bị của Thiên Chúa hầu có thể đón nhận mạc khải trọn vẹn trong Đức Ki-tô. Cha bảo lưu tất cả các dấu vết và các phần chuẩn bị đó, như kho tàng quí báu Chúa an bài xếp đặt cho cả một dân tộc hướng về Nước Trời. Do đó, cha có thái độ như tuyệt đối quí trọng, canh giữ và loại trừ tất cả các yếu tố làm mai một, vẩn đục, làm xúc phạm đến kho tàng đó. Chẳng hạn hư đời sống thị thành mang nhiều chất độc vô tín ngưỡng.
“Những người Jrai hăng say, chuyên cần cầu khấn, quen cúng tế khá tốn kém, sợ Yang, nhạy cảm việc đền bù sự vi phạm, uế tạp, chính họ sẽ trở nên người Công Giáo tốt nhất, và họ sẽ hiểu sâu sắc hơn lời cầu nguyện, dâng tế, và tội lỗi là gì trong Đạo Công Giáo”. 

Cha tìm công tìm hiểu về cấu trúc thượng tầng và thâm sâu lòng tin của người Jrai đểø từ đó, cha mạnh dạn Phúc Âm hoá niềm tin của họ. Nhờ khám phá bằng con đường nhân chủng học, cha tìm được những nhận thức chưa hoàn chỉnh, hoặc còn mơ hồ của người Jrai về con người, về Thần thánh, về Ơi Adei, về cuộc sống hiện tại, tương lai, về thế giới bên kia, để khai minh, đem ánh sáng Tin Mừng vào nền văn hoá dân tộc.

Như thế, phương pháp truyền giáo của cha là chìm ngấm trong não trạng và nếp sống, là vào cấu trúc tâm linh của họ, để từ đó gieo hạt giống Tin Mừng vào, và Tin Mừng sẽ phát triển trong đời sống của họ, trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của họ. Cha gieo Tin Mừng vào vùng đất niềm tin, vào “đạo” của họ. Chúng ta có thể nói phương pháp truyền giáo của cha là “hội nhập nhân chủng”, hay nói như ngôn ngữ thời đại là “hội nhập văn hoá”.

  1. b.    Tổ chức Trung Tâm Dự Tòng

Cha đòi hỏi việc tòng giáo, trước tiên cần có môi trường, ít nhất là môi trường gia đình bảo đảm. Cha nói: “Tôi đã không gặp trường hợp tập thể đồng tâm trở lại đạo; ngược lại, tôi cũng không chấp nhận việc cá nhân riêng rẽ tòng giáo. Kinh nghiệm chứng minh họ không thể giữ đạo được. Chính vào Trung tâm – như một gia đình nhỏ – người Dự Tòng mới có thể sống đạo giữa môi trường không đạo”.

Thứ đến những người Dự Tòng cần được tập thể đảm bảo; cụ thể là cộng đoàn tín hữu có tổ chức và đã được thay đổi môi trường tôn giáo thích hợp.

“Rao giảng Tin Mừng không chỉ chạm đến cá nhân riêng biệt, mà chính là khai minh tự bên trong thiên khiếu của một dân tộc, và thay đổi cấu trúc xã hội của họ. Tổ chức Dự Tòng là thời gian nhận thức của một dân mới, có chiều kích cá nhân tự thân và chiều kích tập thể nữa”.

Cha quan tâm đặc biệt tính côäng đoàn, môi trường đảûm bảo và làm nảy sinh đức tin. Cha đi từ thực tế xã hôäi người Jrai để rút ra hậu kết và mục vụ có tính Giáo Hôäi: “Môät côäng đoàn được qui tụ, thành hình ít nhất do thành viên trong gia đình, thường là cả bôn, đôi khi còn hơn thế nữa, như trường hợp các lễ ăn nhà mả của người Jrai và tế trâu ở miền Nam. Người ta tế cúng chung với nhau; không gieo vãi là môät điều vô nghĩa, cũng vậy, vô nghĩa khi không có cúng tế ( … ), không có cúng tế, không có tôn giáo. Ngoài côäng đoàn không còn đời sôáng tôn giáo nữa, cũng như không thể làm việc; bỏ nghi thức cúng tế nương rẫy, thì bỏ cày cấy; bỏ nghi thức cúng gia đình, thì tự kết án tuyệt sản. Làm sao trở nên Ki-tô hữu riêng tư được”

Chính vì thế, cha qui tụ các người Dự Tòng về quanh vùng Cheoreo để cùng sống đời sống phụng vu,ï học hỏi giáo lý và sống tình huynh đệ.

  1. c.      Tổ chức giai đoạn Dự Tòng

“Hầu như tuyệt đại đa sôá người Jrai thực hành môät thứ tôn giáo côå truyền, chi phôái não trạng họ, đến nỗi làm cho họ tê liệt mọi hình thức tôn giáo khác; môät sôá người Jrai ít nhiều gọi là phát triển tiến bôä thì sôáng không tôn giáo. Tất cả bất lực trước môät giáo huấn bằng lời nói, và bất định lạ lùng trong việc thực hành điều mới lạ với phong tục tập quán của họ… Tính bất định của người Jrai đòi hỏi cần có một thời gian Dự Tòng lâu; môät sôá khuyến khích được sôáng Dự Tòng suốt đời ».

Rao giảng Tin Mừng không chỉ là chạm đến cá nhân, mà chính là khai sáng bên trong thiên khiếu của một dân tộc và biến đổi cấu trúc xã hội của họ. Dự Tòng, thời gian nhận thức của một dân mới, có một chiều kích cá nhân tự thân và chiều kích cộng đoàn. Các dự thính, Dự Tòng, Thỉnh Nhân và Tuyển Nhân, đó là một tiêán trình chậm, nhưng chắc chắn. Lớp huấn giáo chia 3 năm:

- Nội dung Kinh Tin Kính được khai triển, làm nôåi bật sự thay đổi mà họ phải có trong đời sôáng. Người Dự Tòng tập lần hạt.

- Cựu Ước được kể lại, khai triển những ý nghĩa căn bản đặt trong mối tương quan lịch sử, minh chứng sinh động trong tâm thức tôn giáo, giôáng như mọi người trước khi Đức Ki-tô đến. Các Dự Tòng tập cầu nguyện bằng Thánh Vịnh.

- Tân Ước được trình bày giữa Cựu Ước sự liên tục trong đời sôáng Giáo Hội, dẫn đến Bí Tích Nhập Đạo. Các Dự Tòng cầu nguyện theo Kinh Lạy Cha, đào sâu, suy gẫm. Họ thực hành công việc thờ phượng. Sau đó, các người Tân Tòng khởi sự vào đời sôáng các Bí Tích, dựa theo Tin Mừng Thánh Gio-an và học lịch sử Giáo Hội.17 Phương pháp Dự Tòng của cha có những điểm mới lạ, sáng tạo do suy tư và thực tế mục vụ mà có. Đó là môät đóng góp đáng kể của cha vào việc canh tân Giáo Hôäi, bằng đổi mới nghi thức và phương thức, nội dung dạy giáo lý về rửa tội cho người lớn trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh được Công Đồng Vatican II quyết định trong kỳ họp II, khoá III, ngày 4.12.1963.

  1. d.    Đào tạo nhân sự hạt nhân

Cha đặc biệt quan tâm đào tạo đội ngũ cán sự Giáo Lý Viên người Jrai cho người Jrai: “Giáo Lý Viên luôn là cánh tay phải và là người thợ của Chúa… Người Dự Tòng cần học hỏi họ chẳng những bước đầu của đức tin, mà còn học tập việc thực hành nhân đức và tình yêu cao cả, chân thành đối với Đức Ki-tô, cũng như Giáo Hội của Người. Mọi cố gắng để gia tăng số lượng trợ tá này cần thiết cho hàng Giáo Phẩm, đồng thời một mặt đào tạo cho xứng hợp, mặt khác mọi hy sinh của Giáo Lý Viên để hoàn thành bổn phận của mình luôn luôn tương xứng hơn, và hoàn hảo hơn; tất cả những điều đó sẽ là một đóng góp có hiệu năng ngay để thiết lập và thăng tiến những cộng đồng Ki-tô hữu mới thành lập.

Cha đã đào tạo nhóm Giáo Lý Viên người Jrai trẻ, hăng say, đạo đức cho người Jrai, vì họ biết các người của mình muốn gì, để ý gì và bụng họ nghĩ gì.

“Chỉ một người Jrai có đạo đức có thể trình bày thật sự, cho những người Jrai biết đạo Công Giáo là gì, đạo mà một người trong họ đang sống ( … ). Vì thế, nếu quan tâm thứ nhất của tôi là học tiếng nói, thì lo lắng thứ hai của tôi là đào tạo những con người phụ tá như thế”. 20

Cha đã thành công trong công tác này. Những con người như vậy nay vẫn là hạt nhân cho anh em mình, dù trải qua muôn ngàn chật vật, khó khăn.

  1. e.      Dùng ngôn ngữ, văn tự để phổ biến chân lý, kiến thức cho dân chúng

Cha dày công nghiên cứu tiếng nói người Jrai, và dùng mẫu tự Latinh để tạo ký âm tự cho họ. Cha lưu tâm nhiều về tầm mức quan trọng chuyển dịch từ ngữ Kinh Thánh – kể cả các bài huấn đạo – qua tiếng Jrai, sao cho họ đọc lên, một mặt hiểu được ý nghĩa mạc khải, qua ý nghĩa, phạm trù tôn giáo vẫn có sẵn trong từ của người Jrai. Nói cách khác, cha cố gắng dùng phạm trù tôn giáo, văn hoá của người Jrai mặc cho nội dung mạc khải Kinh Thánh để họ thấy nội dung đó không xa lạ gì với họ, ngược lại gần gũi với tâm thức, với cảm nghĩ, phong tục của mình, đồng thời có một cái gì dù quyện vào hình ảnh quen thuộc, vẫn trổi vượt, làm cho họ hướng đến ý nghĩa ngoài mức nhận thức và niềm tin cổ truyền và thường nhật của họ. Cha cho rằng công tác chuyển dịch ( version ) từ ngữ liên quan chặt chẽ với việc chuẩn bị cho chuyển hoá (conversion ) tâm linh.

  1. f.      Khai trí cho cư dân, đặc biệt lớp trẻ

Ngay từ đầu, cha cũng qui tụ độ 100 em nhỏ – những em tò mò đến xem “ông kẹ” – để làm quen, và dần dần giúp các em học chữ. Ngày 4.3.1956, cha đưa 6 người trẻ đầu tiên lên học tại trường Cuénot thị xã Kontum để hấp thụ kiến thức, vững chắc đời sống nhân bản hầu sau này phục vụ cho cộng đồng. Sau đó, cha cũng gởi một số thanh niên nam nữ học sinh đi học lưu trú tại một số dòng tu tại Đà Lạt hoặc tại Sài-gòn để học văn hoá.

Cha nhận thức môi trường học đường là nơi gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh, khai thông những bế tắc do cơ chế xã hội ràng buộc, đồng thời mở lối tích cực, sâu xa và vững chắc cho thế hệ mai sau tiến đến một xã hội phát triển hơn, nhờ đó Lời Chúa mới sản sinh được. Số Giáo Dân của Trung Tâm là 85 người và 120 Dự Tòng. Có 2 Nhà Nguyện: một ở Bon Ama Djơng và một ở Plei Pa.

3. Người dân nói về cha Jacques Dournes

Người được Cha Sai Đến

Vào tháng 7 năm 1955, Đức Cha Paul Seitz, tập họp tất cả các em học sinh Jrai đang học tại trường trung học Sabatier ( Ban Mê Thuột ). Và ngày 14.7.1955, Đức Cha tập họp riêng các học sinh theo Đạo để tĩnh tâm 3 ngày. Vào dịp đó tôi đứng lên xin ngay với Đức Cha: “Trong vùng Cheoreo, chúng con ở trong tôí tăm mù mịt lắm, Đức Cha có thể gửi người đến vùng Cheoreo đem ánh sáng cho chúng con không ?. Ama H’Đam cũng nói như vậy. Đức Cha trả lời: “Những lời các con đề nghị đó, cha không chỉ xin ghi nhận thôi đâu, mà còn hơn thế nữa, cha chấp nhận ngay”.

Vào lúc 6 giờ chiều ngày mồng 1 tháng 8 năm 1955, Đức Cha Seitz thảy cha Dournes xuống trước nhà chúng tôi ( nhà amí H’{er, chồng là Ơi H’Lem, chủ bon). Nghe tiếng xe đỗ trước nhà, tôi liền nhảy xuống bắt tay ngài, vì tôi đã gặp ngài ở Kontum. Tôi nắm tay đưa ngài lên nhàø chúng tôi ( dài 12 gian ) để gặp cha tôi ngay giữa nhà nơi chỗ thường cúng Yang.

Rồi ngài ở luôn trong gia đình chúng tôi và bắt đầu học tiếng Jrai với tôi, ăn uống như mọi người trong gia đình chúng tôi: ăn lá khoai mì, ăn rau dền… Ngài ở trong ngôi nhà của chúng tôi được 3 tháng… Chúng tôi đi đâu, ngài cũng đi theo. Vai mang gùi, đi ra rẩy lúa, rẩy bắp, rẩy đậu, ngài đi theo khắp nơi khắp chốn. Khi tôi đi học thì ngài ở nhà một mình. Khi tôi nghỉ học, tôi đi học giáo lý tại nhà cha Bianchetti trong thời gia một năm. Sau đó tôi trở về nhà và ở luôn với cha Dournes.

Vào năm 1956, ngài dựng nhà ngay nơi Trung Tâm này đây. Ngay từ đầu ngài để dành giờ học hỏi phong tục tập quán Jrai, cách riêng phong tục cúng Yang. Qua năm, ngài đi khắp mọi bon, mọi vùng, đi tới Plơi Pa, Bon Sô, Bon }roh-Pơnan, Plơi Rơbai. Rồi ngài cho phát hành tờ báo Kơtrau ( Chim câu ).

Sau đó ngài dựng nhà trường với 3 lớp học. Ngài gửi 3 chúng tôi đi học trường Giáo phu tại Kontum. Sau khi rời trường Giáo Phu, 3 chúng tôi ở luôn với ngài tại Trung Tâm này. Ngài dạy dỗ và tập cho chúng tôi sống theo đời sống của người Jrai.

Năm 1957, ngài mời các soeurs đến ở tại Cheoreo này. Chúng tôi làm nhà cho họ.
Mới gần đây, tôi nằm ngủ mơ thấy cha Dournes, ngài gọi tên tôi. Tôi cũng mơ thấy Đúc Cha Paul Seitz, Đức Cha Cassaiganai, vị Giám mục Chăm sóc người phung cùi cùng với cha Bianchetti. Cho nên khi cầu khẩn lên với Triều thần thánh, tôi luôn kêu thêm danh Đức Cha Paul Seitz, cha Bianchetti.

R]OM PƠ ( ƠI HAO )

Vị Thừa Sai Jrai

Tôi ở với cha Dournes từ ngày 27.4.1957. Theo tôi thấy, ngài luôn tin tưởng vào Chúa trong mọi công việc. Ngài là người tài giỏi, hiểu biết rất nhiều lĩnh vực: Nhân chủng học, sinh học, địa chất, thiên văn…

Bản tính nóng nảy nhưng vị tha bao dung và yêu thương người, nhất là đối với người nghèo khổ, người bị áp bức, đặc biệt là chú ý đến những người bị mắc bệnh cùi. Ngài đến với họ không một chút e ngại. Ngài phân thuốc men, âu yếm ôm hôn, an ủi, chăm sóc họ như những người thân ruột thịt của ngài. Khi ngài không đến được với họ, ngài cắt cử giáo dân đến, cụ thể như Ksor Lơng ( Ama H’Ju ), Ksor Man ( Ama H’Ring )…

Việc rao giảng Tin Mừng ban đầu từ trẻ em Bon Ama Djơng rồi đến trẻ em Bon Đê. Và dùng bữa cơm tối từng gia đình trẻ em lần lượt như thế, giáp vòng rồi quay lại. Qua đó ngài có thể tiếp xúc với cha mẹ trẻ em. Người lớn trong bon, vì ban ngày họ luôn luôn vắng nhà và cũng qua đó, ngài hiểu thêm văn hoá, phong tục tập quán, ngành nghề nếp sống của người Jrai.

Khi vấn đề của trẻ em ổn định, ngài triển khai đi tiếp xúc với các bon từ chân đèo Chư Sê đến Krông Pa, từ Cheoreo đến Plơi Mơnang ( Pơ Tó ), nhưng kết quả không được như mong muốn, chỉ có một số gia đình ở Plơi Pa, Bon Chrôh Pơnan được ơn gọi.

Ngài mở trường đặt là Jêrôm vời 3 lớp gồm 1-2-3. Ngài lập vườn dược thảo Jrai, trồng cây ăn trái thiên nhiên như cây thị ( nay đẵ bị đốn chặt ). Ngài có môït khu bảo tồn rừng nguyên sinh ở Bon Ama Djơng rộng khoảng 7 – 8 h ha, nhưng rất tiếc là đã bị phá làm cánh đồng sau ngày giải phóng 1975.
Ngài về Pháp năm 1968 có lẽ ngoài ý muốn của ngài. Nhưng năm 1970 ngài trở lại để lấy vật kỷ niệm của ngài – tượng voi cổ lấy ở Chư Mô, Plơi Pa. Khi ở nước Pháp Ngài vẫn trao đổi với tôi, Ama Yôn, Ama H’Ring bằng thư từ kèm những tấm ảnh sinh hoặt của ngài. Lúc đầu ngài ở Paris sau đó chuyển đến Bagard. Ngài sống đơn độc một mình. Ngài không thổ lộ bệnh tật của mình với người khác, nên khi ngài kiệt sức tắt thở không ai hay biết. Tuy ở bên Pháp tâm hồn và con người của ngài mãi mãi là người Jrai…

RAHLAN SIP ( ƠI SỨ )

Yêu Thương Những Người Cùi

Tôi không có ở với cha Dournes. Tôi chỉ có làm việc Legio với ngài. Ngài sai chi làm nấy. Ngài sống, ăn uống không giống như người Pháp, người Kinh đâu; người Jrai ăn gì ngài ăn nấy. Jrai ta ăn lá chua, ngài cùng ăn với; Jrai ta ăn sarơmoai, cũng ăn theo.

Trên đường từ bon những người phung cùi về Plơi Dơmak, chúng tôi gặp một cô gái xinh đẹp đang giã gạo. Cha Dournes nhìn và nói: “Cô gái đó bị phung cùi rồi”. Ngài gọi cha cô ấy đến và nói: “Cô con gái của ông bị phung cùi rồi. Ông không lo chữa trị thì cô ta sẽ chết. Nếu ông chữa trị thì con gái ông sẽ sống. Tôi sẽ gửi con ông lên Kontum”.

Rồi có một bà ở Kon Khan bị phong cùi, người ta bỏ rơi trong rừng. Bà ta bị cụt cả chân tay. Cha Dournes và tôi đi thăm. Tới nơi, ngài lên nhà bà ta đang nằm và òa khóc. Ngài đưa hai tay ôm lấy bà ta, bồng ẵm bà lên nằm ngay trên đùi ngài, rồi ôm hôn liền. Và cứ ở trong tư thế đó mãi như vậy gần tới hai giờ đồng hồ. Sau đó chúng tôi cùng nhau ra về…

AMA H’JÚÙ

Nhà Nhân Chủng Học

Hai vợ chồng chúng tôi ở với cha Dournes. Sau này Ama Sim làm việc tại Bưu điện, Ama Yuan làm giáo viên dạy học sinh. Còn đời sống của cha Dournes thì Amí Yôn lo nấu cơm cho chunùg tôi. Từ sáng tới trưa, tôi đánh máy chữ với ngài. Chiều làm việc tay chân: cưa gỗ cưa ván, bào ván với ngài, hoặc nhổ cỏ. Chúng tôi đi ghi âm các chuyện cổ, đi tới bon này bon kia. Về tới nhà tôi còn phải đánh máy ghi lại vào giấy nữa, rồi giao lại cho ngài để ngài giữ lại. Tôi làm việc đánh máy cho ngài từ năm 1959 đến năm 1968. Vào năm 1968, ngài trở về Pháp. Năm 1970 ngài cũng trở lại thăm viếng chúng tôi nữa. Mỗi khi tôi có được câu chuyện cổ mà ngài thích, tôi gửi qua Pháp cho ngài. Khi cha Thiện Thi đến thay cha Dournes, ngài cũng muốn thu thập các chuyện kể và tôi cũng đi kiếm cho ngài. Mỗi lần tôi thu thập được chuyện kể, tôi gửi cho cha Dournes tôi cũng trao cho cha Thiện Thi nữa.

SIU {E ( ƠI H’OAN )

Người Tổ Chức

Tôi đây là người từ đầu chẳng ra sao cả. Hôm ấy Chúa gửi cha Dournes và Ama Sim đến chơi nhà tôi, tôi mở ghè ruợu và thui một con gà tiếp hai người. Rồi Ama Sim nói với tôi: “Anh cũng sẽ đi theo chúng tôi chứ ?” – “Đi đâu ?” – “Đi theo Đạo. Anh nhập nhóm những người đến nghe”. – “Đến nghe ở đâu ?” – “Tại nhà Ama Sôn đằng kia kìa”.

Những người đến nghe như tôi cũng đông. Chiều tối nào cũng đến nghe. Rồi cha Dournes nói với tôi: “Anh hãy đến ở với tôi tại Cheoreo”. Nhờ đó, tôi gặp Ama Yôn và Ama Sim.

Có hai ông bác sĩ chăm lo cho người phong cùi ở Kontum đến Cheoreo làm việc với ngài. Họ đi thăm những người bị phong cùi tại Plơi Dơmak. Cha Dournes không cho Ama Yôn và Ama Sim đi theo họ vì phải lo làm việc ở nhà. Chính tôi được phân công đi theo hai bác sĩ đến Plơi Dơmak, có xơ Auguste cùng đi. Chúng tôi đem theo hai gùi lớn bánh mì và thuốc uống cho họ. Bấy giờ tôi mới được thấy tận mắt bệnh tật của người phung cùi, người đứt chân, kẻ đứt tay đủ thư,ù khổ lắm không tả nổi. Làm việc cho đến 5 giờ chiều mới xong.

 AMA H’RING

Ơi Khop

Tôi xin kể lại chuyện tôi ở và làm việc với cha Dournes. Hồi ngài mới đến, ngài ở và ăn cơm tại nhà chúng tôi 3 tháng, hồi ấy tôi đương làm việc tại Bệnh viện Cheoreo này. Mỗi lần về ăn cơm, tôi luôn thấy ngài. Ngài ăn cơm một mình, tôi ăn cơm một mình tôi. Tôi không nói chuyện với ngài, ngài cũng chẳng nói chuyện với tôi. Người ta gọi ngài là ‘ơi khop, ơi khop” ( ông kẹ bắt hồn người ta ), nên tôi cũng sợ. Ngài nói: “Ông kẹ có râu quai nón, ông này thì không có ! Cạo sạch trơn hết rồi !”

Ama Yoan nói chuyện về Giáo Lý với tôi. Tôi nói: “Này Chúa, dượng đi theo Đạo với Chúa, được không ?” – “Được chứù. Để Chúa dẫn dượng đến”… Ngài chốc chốc lại nhìn về phía tôi.

Mỗi lần tôi về nhà mẹ vợ, tôi thấy ngài ngồi nghe người ta nói chuyện, không nói gì. Sau đó tôi đến với ngài. Bà mẹ vợ tôi hỏi vợ tôi: “Chồng mày đi đâu đó ?” Vợ tôi trả lời: “Nó đi theo Đạo.” Bà mẹ vợ tôi liền đóng cửa, lật úp thang không cho tôi lên nhà vì tôi đi theo Đạo.

Bà đã nuôi cơm cha Dournes ba tháng, nay tôi theo Đạo lại không chịu ! Mỗi lần tôi đến họp ở đây, tôi hay đến trễ. Có cả Ama H’Jú, Ama H’}er cũng theo Đạo. Tôi theo Đạo vào năm 1960 và được dìm rửa tội vào năm 1961 cùng với Ama Sim, Ama H’Lũi.

Từ khi quen thân với cha Dournes rồi, chiều nào tôi cũng đến chơi. Trước khi lên nhà, tôi đứng dưới đất hỏi ngài; ngài rảnh việc thì lên, không rảnh thì khỏi.

Ngài lập Hội Legio Mariae, tôi làm phó trưởng Legio, chia công việc cho từng hai người đi làm chung với nhau. Ngày nọ người ta thả bom đánh diệt Cách Mạng trong núi. Cha Dournes hỏi Ama H’Lũi: “Người ta bắn phá Bon Khan rồi ! Có ai đi thăm họ không ?” – “Không có, cha ơi.” – “Anaiø, chúng ta đi

nhé !”

Ama H’Lũi, ngài và tôi, ba người cùng đi. Chúng tôi đi theo đường đi qua đồn lính. Người giữ cổng không cho vô, ngài cứ xông tới, đi vào liền và nói: “Chúng không dám bắn ta đâu, một lũ nhóc con thôi mà !”
Đi tới Bon Phu, đường quẹo vào núi, chúng dừng lại xóa đi dấu bánh xe đạp, sợ người ta sẽ thấy dấu xe. Tới Bon Khan thấy không còn nhà cửa, đồ đạc gì nữa, cháy hết trơn. Chúng tôi ở lại đó một chút thì thấy một ông già đang giập lửa cháy. “Ông ơi, xin cho hỏi chút: Họ thả bom ở đâu đây, ông ?” – “Thả ở nơi đây, đây !” – “Vậy hiện dân bon ở đâu hết ?” – “Tận trong núi kia, vượt quá ngọn núi đằng kia nữa !” – “Cụ dẫn dường cho chúng tôi đi thăm họ, được không ?” – “Được ! Để tôi dẫn đi”.

Chúng tôi lên đường ngay, đi xuống, đi xuống, đi xuống mãi tận núi Prong, nơi dân bon tập trung lại và ở đó. Đến trưa chúng tôi mới tới. Mọi người đều đi vắng: họ đi vào rẫy ruộng. Dân tập trung nhau lại quanh 11 người bị thưng và lấy một ghè rượu, cúng cầu cho họ.

“Lính có đến thăm bà con không ?” – “Không”. Nhìn lui nhìn tới, cha Dournes hét lên: “Adat mí ma Yuan”. – “Đừng la lớn, cha ơi, sợ rồi Việt minh nghe”. – “Sợ gì ai !” Ngài chửi ầm lên: “Tổ cha, tổ mẹ người Kinh”.

Trở về một chòi nhỏ, không còn cơm nước gì nữa. Vì đói và lạnh, ngài nói Ama H’Lũi về lấy xe hơi các xơ. Bà xơ lo y tế chỉ có đem thuốc mà thôi. Xe đi được nữa đường bị kẹt giữa rừng. Họ đi bộ đến 2 giờ chiều mới tới nơi chúng tôi. Cha Dournes nói với bà xơ: “Không cho xơ vô nhà, xơ hãy quỳ gối giữa cửa này; để những tội lỗi của xơ từ lâu nay được bay sạch hết. Và từ nay về sau, xơ có chết thì Chúa sẽ nhanh chóng đón xơ về với ngài”.

Và bà xơ vào nhà. Buổi tối, xơ ngồi dựa vào vách mà ngủ. Sáng sớm hôm sau chúng tôi lên đường về, ngài biểu Ama H’Lúi đi về trước đề báo cho những người ở nhà chuẩn bị đến đón 11 người bị thương. Rồi ngài bảo đem những người bị thương đến tại bon bị bom cháy, chốc nữa sẽ có người đến chở đưa đi bệnh viện.

ƠI H’HIAM

Ông Cha Mình Đóng Khố Ở Trần

Cha Dournes luôn sống mình trần, áo không mặc, đi chân đất. Năm 1962 ngài gửi chị em chúng tôi, tôi và H’Ring đi học tại Dòng các Mẹ Biển Đức ở Buôn Ma Thuột. Ơi H’Oan dẫn chúng tôi đi. Cha đặt tên cho tôi là Sophia.
Chúng tôi làm việc trong Legio Mariae với xơ Helen và xơ Goretti. Yá H’Hiam làm trưởng, Amí Tơm làm thư ký, còn tôi làm thủ quỹ. Mỗi Chúa nhật họp Legio nữ tỳ Mẹ Maria, phân đi công tác từng nhóm hai người. Lần nọ chúng tôi đi qua Plơi Pa, mưa lớn nước lớn, Ama H’Ring chèo suồng đưa chúng tôi đi. Chúng tôi giúp giả gạo, kín nước, chặt củi.

Tôi ở với cha, đánh máy các chuyện cổ. Giúp cha xong, ngài sai tôi và H’Ring đi học tại Đà Nẵng, tại nhà các chị Phao-lô. Khi tôi còn học tại Đà Nẵng, Siu Ký viêt thư cho cha Dournes xin được kết hôn với tôi. Vào dịp nghỉ hè, cha Dournes gọi tôi và nói: “Con biết vì chuyện gì mà cha gọi con không ?” – “Con không biết !” – “Có một thanh niên viết thư muốn kết hôn với con. Con nghĩ sao ?” – “Ô, cha ơi, con muốn làm ma xơ !” – “A bới ! Lạ quá ! Jrai mà cũng muốn làm ma xơ ! Con đã nghĩ chín chắn chưa ?”

Hai ba ngày sau, ngài và Ama Sim đưa tôi đi học bên các bà xơ Buôn Ma Thuột.

Tôi không biết ngài trở về Pháp. Ở với ngài tôi sợ lắm, lo quét Nhà thờ, pơdjong loa nao, hní kơ [u hmứ ( đi nhè nhẹ sợ cha nghe ). Học xong, ngài gửi thư cho Ama H’}eo ( Nay Luet, tổng trưởng sắc tộc ). Ngài muốn dượng giúp tôi qua học bên Pháp. Ama H’}eo không giúp được, chỉ lo cho một mình con dượng là R]om H’}eo đi mà thôi. Sau ngày đất nước được giải phóng, ngài có gửi thư cho tôi, cho thấy ngài luôn thương yêu người Jrai.

 R]OM H’NER ( AMÍ H’HIAM )

Chấp Nhận Những Điêù Mới Tốt Đẹp

Từ tuổi nhỏ tôi đã ở với cha; buổi sáng lo tưới hoa. Ngài cho chúng tôi vào làm việc Legio, giao việc cho từng hai người đi đến mọi bon giúp gùi nước, kiếm củi, giã gạo, giã bắp… Ngài cho phụ nữ chúng tôi mặc áo không tay, quấn váy ngắn ngang đầu gối ( đồ truyền thống Jrai ). Chúng tôi mà mặc váy dài quét đất, ngài rầy liền. Ngài nói: “Đồ con ma lai, con cú vọ. Các con uốn tóc để làm gì ? Để làm đĩ hả ?”.

Chúng tôi còn nhỏ không biết chi về việc uốn tóc. Mọi chuyện liên quan đến thân xác, ngài luôn chỉ dạy cụ thể rõ ràng. Ama Guam ( anh ruột ) lo cho tôi đi học ở Sài-gòn. Cha rầy tôi: “Việc gì mà cô đi Sài-gòn học ? Cô muốn làm đĩ hả ?” – “Không có đâu, cha ới ! Nhà Nước kêu gọi người Jrai đi học chuyên nghiệp. Việc đi học đều do nhà nuớc tổ chức. Nhà nước có giúp, chúng con mới đi học được”. – “Cô đi làm đĩ cho người ta; đi làm đĩ ở Sài-gòn la !”

Tôi kêu Ama Guam đến: “Anh hãy đến gặp cha. Người ta đi học, ông lại nói mình đi làm đĩ !” Rồi Đức Cha Paul Seitz cho ngài hay. Sau đó cha Dournes mới nói: “Cũng đúng đó, người Jrai các con không biết nấu cơm. Cô đi học tại thành phố phải đó. Cô đến ở với các bà xơ nghe ! Hồi nãy cha không hiểu, nên cha đã nói con muốn làm đĩ”. Học ở Sài-gòn về, tôi đến thăm cha, ngài nói: “Người ta dạy gì cho các con ?” – “Các xơ dạy đủ thứ, cha ơi”. – “Cha nghe nói các con học nghiêm túc lắm. Để xây dựng cho người Jrai”. Cha Dournes nói đúng. Ta không biết chuẩn bị để sống với người ta, ta sẽ không hiểu và sẽ làm bậy, rồi sai lệch. Ở Sài-gòn thấy mọi chuyện, về lại Cheoreo này tôi ăn mặc như đã học được, ngài khen: “Cô mặc đẹp lắm. Tóc uốn cũng đẹp. Cô hãy nhìn xem người ta sống thế nào, ở Sài-gòn ra sao. Được lắm”. Năm 1968, trước khi về Pháp, ngài có đến thăm và chơi với chúng tôi tại Sài-gòn…

R]OM H’BLOT ( AMÍ YANÔ )

Ông Kẹ Yêu Trẻ Em

Tôi quen với cha Dournes do Amí Toan rủ đến xem phim ảnh cha chiếu cho trẻ em xem. Tôi quen biết lui tới với ngài từ năm 1962 đến năm 1965. Tôi siêng đến cầu nguyện và dâng lễ mỗi sáng. Mỗi lần mừng Đại Lễ Phục sinh và Noel tại Plơi Pa, tôi có đi theo hết. Mọi việc cha sai trôi đều làm theo.

YÁ BEO

Tóm lại, cha Jacques Dournes đã đặt nền móng và đề ra một đường hướng phát triển rất tuyệt vời cho Trung

Tâm. Thế nhưng, vì nhiều lý do khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan, cha đã không thể tiếp tục ở lại Trung Tâm. Một tổn thất to lớn biết bao !

TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO CHEOREO, 8.2005 ( Còn tiếp )