50 NĂM CHA LÊN RẪY (Kỳ 1) – CHEOREO

 LỜI NGỎ

”Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định” ( Rm 8, 28 )Cách Cha đến với người Jrai, ban đầu mọi người nghĩ là nhờ vào các Thừa Sai, nhưng khi cha Jacques Dournes bảo những người cộng tác với ngài dạy giáo lý phải xem coi có câu chuyện nào trong dân gian nói tương tự như câu chuyện Thánh Kinh không, để so sánh để nhận ra Thiên Chúa không xa lạ, thì vấn đề đã khác.

Đến khi cha Gioan Baotixita Nguyễn Văn Phán, CSsR, chủ trương chỉ tập trung vào Thánh Kinh, để chính Thiên Chúa dạy cho dân, thì lúc đó mọi người bắt đầu nhìn lại và nhận rằng chẳng phải nhờ các nhà Thừa Sai mà Cha mới đến, mới “lên rẫy” với dân Jrai, mà từ xa xưa rồi, từ 5.000 năm trước, Cha đã có cách đến với dân; chẳng phải nhờ những nhà Thừa Sai mà Cha dạy dân, nhưng chính Cha đã đến chữa lành cho người bệnh lâu năm, giải phóng họ khỏi mặc cảm dân thiểu số, trao ban năng lực cho họ để chính họ trở thành Thừa Sai. Chính vì vậy, 50 năm qua Cha đã làm và nếu những gì đã hoàn tất thì chính Cha đã hoàn thành.

Tập ghi chép nhỏ 50 năm Cha lên rẫy không phải là một lược sử về 50 năm truyền giáo, cũng không phải là một nghiên cứu về truyền giáo, văn hoá hay mục vụ, mà chỉ là một cách ghi nhớ một lần và nhiều lần nhận ra Cha ở trong dân qua những nhân chứng cụ thể.

Đọc 50 năm Cha lên rẫy hy vọng sẽ làm cho mọi người thêm thao thức tìm kiến Cha trong công việc của mình và nhận ra Cha trong dân.

VÙNG ĐẤT CHEOREO

1. Địa Lý

Cheoreo là một vùng đất gồm 3 huện Ayun Pa, Krông Pa và Ia Pa nằm ở phía đông – nam của tỉnh Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk. Đây là một vùng trũng hiếm hoi trên mảnh đất Tây Nguyên. Dãy Trường Sơn khi chạy về phương nam đa bị đứt gãy, tạo thành thung lũng khá sâu. Dòng sông Pa cùng với các nhánh của nó, ngày đêm không ngừng mang đất đá, phù sa từ các đồi núi về để bồi đắp cho thung lũng. Dần dần thung lũng trở thành vùng trũng Cheoreo, với đất đai tương đối mau mỡ.

Hình thành do sự đứt gãy của dãy Trường Sơn nên vùng trũng Cheoreo nằm kẹp giữa hai dãy núi chạy theo hướng tây bắc – đông nam: Dãy Chư Trol ở phía đông bắc và dãy Chư Juê ở phía tây nam. Vì thế, đây là một vùng đất ít mưa và rất nóng. Về mùa hạ, gió mùa tây nam mang theo hơi nước từ Đại Tây Dương đã bị chặn lại bên kia dãy Chư Juê nên khi đến vùng trũng Cheoreo chỉ còn là gió nóng và hanh khô. Mùa đông cũng thế, bao nhiêu hơi nước và mưa đã bị chặn lại bên kia dãy Chư Trol nên khi đến vùng trũng Cheoreo này, gió mùa đông bắc chỉ còn lại gió hanh khô.

2. Địa Danh:

a. Cheoreo

Cheoreo là tên của hai anh em Chu và Chreo. Từ vùng núi Chư Juê , người Rcom đã đến vùng Bon Sôm, bắc Đăk Lăk. Sau đó, họ lên núi Chư Trol, rồi đến vùng Bon Sô và lập Bon Rơngôl Por Klang, gần Bon Sô Ama Hang ngày nay. Chu và Chreo là hai anh thuộc dòng họ Rcom. Họ là những người giàu có và nổi tiếng trong cả vùng. Chu là người giỏi săn bắn và Chreo là người giỏi xử kiện. Vào tiền bán thế kỷ XIX, hai anh em quyết định thành lập một bon mới và kêu gọi những người khác đến với mình. Bon mới này nằm tại địa điểm quãng từ Bến Mộng đến quốc lộ 25, giáp với sông Ayunpa và có tên là “Chu Chreo”. Những người Kinh do phát âm không quen từ “Chu Chreo” nên đọc là Cheoreo. Đầu thế kỷ XX, địa danh Cheoreo được người Pháp dùng để chỉ vùng này, theo cách gọi của người kinh. Dần dần địa danh Cheoreo trở thành quen thuộc và được dùng để chỉ cả vùng này.

Ngày 01.09.1962, chính quyền Sài Gòn lập tỉnh Phú Bổn, đặt tỉnh lỵ tại Cheoreo mang tên mới là thị xã Hậu Bổn. Ngày nay tỉnh Phú Bổn đã bị chia thành 3 huyện: Ayun Pa, Krông Pa, Ia Pa, và một phần nữa thuộc về huyện Ia H’Leo, tỉnh Đăk Lăk. Điểm truyền giáo của Linh Mục Jacques Dournes tại Bon Ama Djơng, ngày nay mang tên Trung Tâm Dự Tòng Cheoreo-Tơluí.

b. Ayunpa

Ayunpa là địa danh lâu đời và hàm chứa những tính đặc thù của cộng đồng sắc tộc người Jrai. Nó gắn liền với hệ thống chính trị tôn giáo đạt tới đỉnh cao ở Pơtao. Sông Ayun gồm hai nhánh: một nhánh bắt nguồn triền núi huyện Chư Sê chảy xuống được gọi là Ayun Hạ ; và nhánh kia bắt nguồn từ huyện Mang Yang được gọi là là Ayun Thượng. Hai nhánh sông này nhập lại trên vùng đất Chư Athai để rồi chảy xuôi về thị trấn Ayun Pa. Sông Pa, con sông duy nhất chảy ngang dãy Trường Sơn, bắt nguồn từ núi Ngọc Rô, có độ cao 1240 m, qua thị trấn An Khê, huyện Kon Chro, huyện Ia Pa, rồi đổ về xuôi, hoà làm một với sông Ayun, tại địa điểm cách thị trấn Ayun Pa khoảng hơn 1 km về hướng đông bắc. Vì thế vùng đất này còn có tên là Ayunpa.

3. Xã Hội

Người Jrai thuộc nhóm ngữ hệ Malayo-Polyanaisiens, cùng nhóm với Êđê, Chàm… Họ theo chế độ mẫu hệ. Trong gia đình, người đàn bà làm chủ và những người con sinh ra theo họ mẹ. Người Jrai sống thành từng bon ( hoặc plơi ). Mỗi bon có chừng 50 – 100 nóc nhà. Mỗi bon là một đơn vị độc lập. Đứng đầu bon là chủ bon. Dưới ông có những người giúp ông và cùng với ông lập thành hội đồng những ngườì già. Hội đồng này sẽ quyết định những việc quan trọng của bon như: dời bon, kết nghĩa hoặc chống lại các bon khác…

Mỗi bon là một đơn vị độc lập nhưng các bon cũng có liên kết với nhau tạo thành tring, chẳng hạn tring Cheoreo, tring Krôngpa, tring Hơdrung… Mỗi tring có người đứng đầu được chọn ra từ hội đồng các chủ bon. Nhưng người có ảnh hưởng trên dân nhất là các Pơtao. Pơtao vừa mang tính quân chủ vừa mang tính thần thiêng. Người Jrai có 3 vị Pơtao: Pơtao apui, Pơtao ia và Pơtao angin. Mỗi vị ảnh hưởng trên một vùng. Vùng Cheoreo chịu ảnh hưởng của vị Pơtao apui.

Xã hội Jrai đã phát triển gần đến hình thức nhà nước. Vị Pơtao là người đứng ra đại diện để bang giao với các nước khác. Năm 1525 Saka ( 1601 theo công nguyên ), vua Long Vek, Campuchia đã đến chúc mừng Pơtao apui và Pơtao ia: “ …Đức Vua Long-Vek, thủ đô Campuchia, truyền lệnh ( … ) mang sắc chỉ và tặng phẩm của nhà Vua này tới xứ Ayun-Apar chúc mừng hạnh phúc và thịnh vượng tới các Vua Nước và Lửa để giữ được Preah-Khan trên đỉnh núi quí và làm chủ được các xứ Roder, Chréay và Pnong ( … ) để giữ được các đường sá và rừng rú”

Vua Thuỷ Xá và Hoả Xá cũng là những vị được nhắc đến nhiều trong sử sách Việt Nam.

4. Tôn Giáo

Người Jrai tin vào thế giới linh thiêng: Ơi Adei, các Yang, các Thần thánh, bơngat ( hồn )…

Ơi Adei là chủ tể, lớn hơn tất cả các Thần thánh, các Yang. Ngài là nguồn gốc của sự sống, là Đấng sáng tạo tất cả mọi sự. Người là Đấng Thẩm Phán nhờ trung gian của các Yang, và nhờ các Thần Thánh để thực thi sự quan phòng. Ơi Adei nuôi nấng nhân loại và yêu thương người nghèo khổ. Yang là các Thần linh. Có rất nhiều Yang: Yang sông, Yang núi, Yang bến nước… Các Thần thánh là những vị sứ giả của Ơi Adei, có thể ban ơn hoặc giáng hoạ. Yang, Thần thánh là những vị có một thể chất dù tinh tế hơn loài người, nhưng vẫn còn bị hạn hẹp do không gian. Còn Ơi Adei là vô chất thể, trổi vượt trên trên tất cả mọi sự. Ơi Adei là chủ tể, nhưng trong cuộc sống do những nhu cầu cấp thiết, tức thời, người Jrai thường chạy đến các Yang, cầu cúng các Yang ; Ơi Adei như bị lu mờ. Bởi thế, có thể nói, Đạo của người Jrai là Đạo Yang.

Người Jrai tin rằng khi chết thì thân xác bị thối rữa, nhưng bơngat ( hồn ) thì vẫn tồn tại. “Sau khi thân xác chết, “cái tôi” ngoài thời gian cần một cái “trụ” thể chất; nó có thể mang nhiều hình dạng: con cá, côn trùng hoặc đầu thai sống động nơi một em bé mới sinh”. “Mỗi người ở trên trời có một chỗ bảo lưu đời sống của họ, ví như một chất lỏng, mà vật chứa nó từ từ quay ngược, làm đổ chất được chứa đựng trong đó, chảy ra và tan mất”.

Pơtao là người đứng đầu tôn giáo. Ngài được tôn phong qua một nghi lễ phong thần rất long trọng. Theo định kỳ Ngài sẽ đến thăm các bon plơi. Đây là dịp cúng bái kèm theo các điệu múa mô phỏng. Pơtao không có vùng đất riêng mà chỉ là hình ảnh của vị Pơtao-Mẫu: không có bài diễn thuyết, mà có những lời cầu dùng để đọc; không do thiên bẩm, mà do trí nhớ và trung thành với truyền thống. Đó mới làm cho cả người Jrai vâng phục.

Như vậy về mặt tôn giáo, người Jrai đã có một sự phát triển khá cao: có một quan niệm rất hệ thống về Thần linh, về con người, có một đời sống phụng vụ phong phú, có người đứng đầu tôn giáo rất được kính phục… Đặc biệt, người Jrai có một sự nhạy bén đặc biệt về thế giới tâm linh ; nhìn đâu cũng thấy thánh thiêng. Đây là một điều kiện rất thuận lợi nhưng cũng là một thách thức rất lớn đới với Tin Mừng của Chúa Ki-tô.

I. LẦN THEO BƯỚC CHÂN NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO

Tiếng xe mỗi lúc một xa dần… Ngồi một mình trong căn nhà bà già người Jrai tốt bụng cho trú ngụ “nội đêm nay”, vị Thừa Sai nhớ lại lời của Vị Chủ Chăn Giáo Phận vừa nói lúc nãy: “Cuối thế kỷ qua các Linh Mục đã thử đi vào bộ tộc Jrai, nhưng chỉ đạt tới ngoài viền và chỉ ở lại đó có mười hay mười một tháng. Cha phải cố gắng ở đó lâu hơn. Nếu không, tôi không cần cha nữa !”

Thật vậy, cuối thế kỷ XIX, cha Bề Trên Guerlach Cảnh chuyển hướng truyền giáo theo kiểu khác: không trụ một nơi, nhưng lên đường bài trừ mê tín. Trong quyển “L’Oeuvre anaiùfaste”, cha viết như sau: “Trong lúc cha Bề Trên ( cha Dourisboure ) dạy cho các cư dân hương vị tiếng bản địa và bố trí cho họ một quyển sách tiếng Bahnar, thì tôi lại ra đi truyền giáo”.

Đầu năm 1898, cha Guerlach Cảnh và ông Quới đến Bon Uin. Vì gặp nhiều khó khăn không thể vượt qua, nên chỉ ở được 3, 4 tháng, các ngài đã trở về Rơhai (nay là Tân Hương, thị xã Kontum ). Khi phụ trách ở Rơhai, cha Guerlach Cảnh có dịp đến truyền giáo tại Plei Pơnuk ( Đức Cơ ) và cũng gặp những khó khăn như ở Bon Uin. Sau đây là vài dòng tóm tắt công tác truyền giáo của cha trong thời gian này như sau: “Thực tế, sứ vụ mới này ( đến Bon Uin ) đã trao cho ngài, nhưng vì những khó khăn quá phức tạp, việc thiết lập cộng đoàn hứa hẹn nhiều đã không mang lại kết quả. Cha Guerlach phải trở về vùng Bahnar. Ngài ở cũng gần như vậy tại một điểm khác mà ngài đã thiết lập sau đó, tại Plei Klub. Giữa dân tộc Jrai”

Năm 1923, Linh Mục Thừa Sai Kemlin Văn tiếp tục truyền giáo cho vùng người dân tộc Jrai tại Aiun ( Ayun thượng, Mang Yang ). Ngài thiết lập một nhiệm sở mới là Mang Yang, và tích cực đi sâu vào miền thung lũng Ayun và bộ lạc người Jrai.

Năm 1902, Linh Mục Thừa Sai Nicôlas Cận thay cha Guerlach Cảnh, phụ trách Trung Tâm Truyền Giáo Rơhai.

Năm 1905, một cơn dịch bệnh đậu mùa đã hoành hành dữ dội trong những bon plơi của bộ tộc Jrai trọng yếu. Cha Jannin, – sau này sẽ trở thành vị Giám Mục Đại Diện Tông Toà thứ nhất của miền truyền giáo Kontum – đã vội vã đến cứu giúp. Tới nơi được mấy ngày, cha đã viết cho cha Bề Trên: “Đây là cánh cửa rộng mở vào bộ lạc Jrai khá quan trọng, đông người, mà cũng có khá nhiều cuộc phá rối và ương ngạnh như những miền chưa được khai hoá ở quê hương chúng ta. ( … ) Việc gửi ngay một nhà truyền giáo giàu kinh nghiệm đến với người Jrai là điều cần thiết.”

Và cha Bề Trên Vialleton Truyền đã sai cha Nicolas đến người dân tộc Jrai Habâu ( 1905 – 1908 ). Cha Nicolas đã đảm nhận công việc cực kỳ khó khăn vùng này, như lời vị Bề Trên nói với các đồng nghiệp. “Nếu chỉ cần một ký kiên nhẫn là đủ cho những bổn đạo Bahnar, thì phải cần đến một tạ kiên nhẫn mới đủ cho những tân tòng Jrai”.

Đúng thế, nỗi thất vọng đã ập đến nhanh chóng. Sau khi cha đã tận tuỵ dạy dỗ, một số đông tòng giáo đã không sống đạo như họ đã đoan hứa. Thế là, cha Nicolas thành lập một họ mới gồm những người mà trước đây là nô lệ. Ngài sống giữa họ trong một chòi tranh, cùng họ khai phá đường xá, giúp họ tiếp thu văn hoá mới…

Năm 1908, sau khi nhường nhiệm sở cho cha Corompt, ngài lại lên đường xây dựng một Họ Đạo mới ở Bon Plei-Rơngol. Rồi sau đó, ngài xây dựng một Họ mới ở Plei Me. Kế tiếp những năm sau, cha Nicolas xây dựng vùng điểm truyền giáo tại Pơ-O ( La-Sơn ).

Trong thời gian truyền giáo vùng tây tây nam Pleiku này, cũng có nhiều lần các vị Thừa Sai đã thoáng qua vùng Cheoreo và gặp gỡ một số người dân bản địa vùng này, nhưng công cuộc truyền giáo mới chỉ dừng lại ở khai mở, hay nói đúng hơn như Đức Cha Giáo phận đã nói với cha Jacques Dournes: “Cuối thế kỷ qua các Linh Mục đã thử đi vào bộ tộc Jrai, nhưng chỉ đạt tới ngoài viền” 9

II. VỊ THỪA SAI TIÊN KHỞI

  1. 1.     Tiểu sử

Cha Jacques Dournes sinh ngày 27.5.1922, tại Saint Paul sur Temoise, giáo phận Arras, trong một gia đình quyền quí. Sau khi học xong trung học, cha xin vào chủng viện và tại đó, cha học triết học và Thần học. Ngày 15.10.1946, cha lãnh sứ vụ Linh Mục. Ngày 29.10.1945, cha gia nhập Hội Thừa Sai Paris. Năm 1946, cha đến nhận nhiệm sở Kala, gần Di Linh, Đà Lạt. Sau 08 năm chia sẻ cuộc sống anh em Srê, vào năm 1953, cha phải miễn cưỡng ra đi. Năm 1955, Đức Cha Paul Seitz trao cho cha công việc rao giảng Tin Mừng cho người Jrai.

Khi đọc chương nhất quyển “Dieu aime les Paiens”, chúng ta biết được thời gian cha Jacques Dournes đến Cheoreo. Ngài viết:

“Hôm ấy là ngày mồng một tháng 8 năm 1955 vào lúc 6 giờ chiều. Màu xám xịt của khung trời ngột ngạt tạo cảnh não lòng cho làng Cheoreo, lúc chiếc xe của Đức Giám Mục tới, đem một vị Thừa Sai đến nhiệm sở mới. Ở đây không ai chờ đợi ngài. Hơn nữa, không ai muốn dung nạp ngài. Cho đến thời ấy, cư dân vùng này chưa bao giờ nghe giảng Tin Mừng, vì họ từ chối. Nhưng Đức Giám Mục lại muốn rao giảng Tin Mừng cho họ. Ngài để vị Thừa Sai và rương hòm trên mảnh đất khô cằn trước những chiếc nhà sàn đóng kín,

Chiều lại, những người thượng Indiêng-Jrai từ nương rẫy về nhìn thoáng qua cách lãnh đạm những con người xa lạ ấy; màu da sậm đen như màu áo, họ chui vào túp nhà sàn tranh tối tăm. Qua một người thông ngôn, hai vị giáo sĩ xin một chỗ tạm trú trong bon.

- Các ông không biết sao ?!? Không một người ngoại quốc nào có thể sống ở đây. Trời rất nóng nực.

- Đầy muỗi và chuột chạy khắp nơi.!

- Và đàng khác, chúng tôi không có gì để ăn !.

( … ) Bà lớn tuổi trong bon trung thành với truyền thống hiếu khách của dân tộc, trước kia vốn dân du canh du cư, nói:

- Kìa đã tối, không thể để người ngoại quốc này ở ngoài nhà, vì như vậy là bỏ họ cho cọp rình rập.

- Cho ông ấy vào đây, nội đêm nay !

Và rồi “nội đêm nay” đó lại mở ra một thời gian rất dài lên đến 15 năm và còn ảnh hưởng trong suốt cuộc đời còn lại của ngài.

- Năm 1956: Sau 3 tháng tạm trú trong một gia đình người Jrai, ngài dựng 1 nhà sàn trên mảnh đất đầu Bon Ama Djơng. Ngôi nhà chia làm 2 gian: một để dâng lễ và nửa để làm việc, ngủ nghỉ. Sau đó, dân làng làm thêm 1 Nhà Nguyện loại nhà sàn ( nay là Nhà Thờ Trung Tâm Dự Tòng Cheoreo-Tơluí, sau nhiều lần vá víu ).

- Ngài quy tụ trên dưới 100 trẻ em Jrai, những em tò mò đến xem “ông kẹ”, để làm quen, và dần dần giúp các em học chữ.

- Ngày 14.2: Dòng Tiểu Đệ Charles Jésus đến thăm đất.

- Ngày 18.2, cha khai giảng một trường làng đầu tiên cho các em Jrai: 24 học sinh và 03 giáo viên được cha đài thọ. Một trong ba giáo viên đó là con của vị già làng. 11 Nói là ngôi trường, nhưng thật sự là một phòng nhỏ đủ cho các em tạm ngồi học chữ.

- Ngày 18 tháng 2, cha gởi 6 em đầu tiên lên học tại trường Cuénot ở Kontum. – Ngày 26 tháng 3, Mẹ Bề Trên Dòng Nữ Phao-lô ở Sài-gòn lên thăm đất; quyết định các Nữ Tu sẽ đến vào tháng 8, nhưng tháng 9 mới cho người lên chuẩn bị và tháng 12 ở luôn.

- Ngày 9.11, rửa tội 7 em người kinh và 2 em bé người Jrai sắp chết tên Thánh là Gio-an và Phao-lô, con ông Yit và bà H’Beo.

- Năm 1957: Ngày 13 tháng 3, các chị Tiểu Muội Chúa Jésus đến thăm đất. - Tháng 6, cha cho phát hành tập Giáo Lý Sơ Yếu và tờ nguyệt san bằng tiếng Jrai lấy tên là Kơtrâu ( Chim Câu ).

- Thành lập Presidium Mariae gồm người dân tộc và người kinh. Rửa tội 4 em kinh và 3 em dân tộc sắp chết.

- Năm 1958: Ngài cho phát hành một tờ Giáo Lý ( khổ nhỏ, in roneo ) cho anh em người Kinh dùng.

Các Nữ Tu Phao-lô Tỉnh Dòng Đà Nẵng lên thay các chị Nữ Tu Tỉnh Dòng Sài-gòn giúp nhà thương, văn hoá và Giáo Lý.

- Năm 1960: Trước những chuyển biến mạnh mẽ về mặt xã hội cũng như Giáo Hội, Đức Giám Mục phân định 2 cộng đoàn tại vùng Cheoreo: 1 cho người kinh và 1 cho người dân tộc. Ta biết ngay từ đầu cha Jacques Dournes đã đươc sai đến với những người dân tộc, nhưng trong vùng đó có những người kinh nên cha phải kiêm nhiệm cả hai. Nhưng từ đây số anh em người kinh đã có cha Henri Radelet ( cha Gia ) đảm nhận, nên ngài có thể dành hết tâm huyết cho người dân tộc.

- Chúa Nhật 5 tháng 6 năm 1960, rửa tội cho người Jrai đầu tiên, sau 5 năm Dự Tòng tên là Siu Nge ( Ơi H’Oan ), với tên thánh là Gio-an Bao-ti-xi-ta.

- Năm 1961: Vào đêm Phục Sinh 2.4.1961, rửa tội cho 03 Dự Tòng dân tộc: An-rê Ksor Ngach ( Ama H’Luí ), Gio-an Rahlan Sip ( Ama Sim ) và Giu-se Siu Blu ( Ơi H’Hiam ).

- Năm 1962: Rửa tội cho 3 người phụ nữ cùng các con của họ: Vợ ông Ama Sim, vợ ông Ama H’Hiam và vợ chồng chị Amí H’Ring

- Năm 1962 – 1965: Ngài được Đức Giám Mục Giáo Phận mời đi Công Đồng Vatican II, như biên tập viên trong hai năm.

- Năm 1968: Giai đoạn Giáo Hội Việt Nam đóng vai trò tổ chức, điều hành công việc truyền giáo ở miền cao nguyên.

- Năm 1969: Ngày 20 tháng 2, cha Jacques Dournes lên đường đi Singapore. – Năm 1970: Ngày 28 tháng 10, từ Kontum, cha Dournes trở về tới Pháp để nối tiếp công việc khảo cứu.

TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO CHEO REO, 1.8.2005 ( Còn tiếp )