BỨC THƯ NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN CỦA ĐTC PHANXICÔ

DTC va tu si

Đức Thánh Cha Phanxicô đã cho công bố bức thư Năm Sống Đời Thánh Hiến vào hôm qua thứ bảy 29.11, và sẽ khai mại tại khắp nơi  trên toàn thể Giáo Hội hoàn vũ vào ngày Chúa Nhật I Mùa Vọng, 30.11. Năm Đời sống Thánh Hiến sẽ bế mạc vào ngày lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ, 02 tháng 2 năm 2016.

Trong bức thư, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến mục tiêu của năm Sống Đời Thánh Hiến, là nhìn lại quá khứ với lòng biết ơn, sống giây phút hiện tại với tình yêu tha thiết và hướng đến tương lai với niềm hy vọng.

Đức Thánh Cha cũng bày tỏ sự kỳ vọng trong năm thánh hiến là: những người nam nữ thánh hiến sẽ là chứng nhân của sự hiệp thông, của niềm vui Tin Mừng, và luôn luôn đi đến những vùng ngoại vi để loan báo Tin Mừng.

“Cha tin tưởng vào các con để đánh thức thế giới, dấu chỉ của đời sống thánh hiến là lời mang tính ngôn sứ.” “Tính ngôn sứ này rất cần thiết cho thời buổi hiện tại này.”

Ngài kêu gọi các cộng đoàn thánh hiến hãy bảo vệ chống lại lời nhảm nhí, sự ghen tị và nhỏ nhen trong đời sống cộng đoàn, để sống “tương thân tương ái” với những ơn gọi khác trong Giáo Hội, và để “can đảm tiến bước hơn nữa từ những phạm vi riêng lẻ của từng người để cùng hợp tác với nhau.”

Đức Thánh Cha nói rằng ngài mong muốn những người nam nữ sống đời thánh hiến luôn kiểm điểm sự hiện diện của mình trong đời sống Giáo Hội và để đáp ứng những “nhu cầu mới liên tục phát sinh bên cạnh chúng ta, để lắng nghe tiếng kêu than của người nghèo.”

Sau đây là nguyên văn bức thư:

Thưa Anh Chị Em tu sĩ Sống Đời Thánh Hiến,

Cha viết thư này trong tư cách Đấng kế vị Thánh Phêrô, người mà Chúa giao phó nhiệm vụ bảo vệ anh chị em mình trong đức tin (Lc 22:32). Nhưng cha cũng đang viết cho con như một người cha anh, giống như các con, được thánh hiến cho Thiên Chúa.

Chúng ta hãy cùng nhau tạ ơn Chúa Cha, Đấng kêu gọi chúng ta theo Chúa Giêsu bằng việc dâng hiến toàn vẹn cho Tin Mừng và để phục vụ Giáo Hội, và đổ vào lòng chúng ta Chúa Thánh Thần, nguồn cội của niềm vui và làm chứng cho tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa trước mặt thế gian.

Để đáp ứng mong đợi của nhiều người trong các con và của Thánh Bộ Đời Sống Thánh Hiến và Các Hiệp Hội Sống Đời Tông Đồ, cha quyết định cho mở Năm Đời Sống Tận Hiến vào dịp kỷ niệm 50 năm ra đời Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium, chương thứ sáu đề cập đến tôn giáo, và Sắc lệnh về Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu, Perfectae Caritatis. Năm Sống đời Thánh hiến sẽ khai mạc vào ngày 30 tháng 11 năm 2014, Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng, và kết thúc với Lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh vào ngày 02 Tháng Hai năm 2016.

Sau khi tham khảo ý kiến ​​với các Thánh Bộ Đời Sống Tận Hiến và Các Hiệp Hội Sống Đời Tông Đồ, cha đã chọn mục tiêu cho năm thánh hiến này tương tự như điều mà Thánh Giáo Hoàng Phao-lô II đã đề nghị với toàn thể Giáo Hội vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, nhắc lại những gì ngài đã viết  trong Tông Huấn Vita Consecrata [sống đời thánh hiến]: “Các con không chỉ nhớ về một lịch sử vẻ vang, nhưng cũng có một lịch sử rất lớn vẫn phải được thực hiện! Hãy nhìn vào tương lai, nơi Thánh Thần đang gửi các con đến để làm những việc lớn hơn” (số 110).

I. MỤC TIÊU CỦA NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

1. Mục tiêu trước hết là nhìn về quá khứ với lòng biết ơn. Tất cả các Dòng tu của chúng ta đã thừa kế một lịch sử phong phú của các đặc sủng. Tại đây chúng ta nhìn thấy bàn tay kỳ diệu của Thiên Chúa, trong Chúa Thánh Thần, kêu gọi các cá nhân nào đó để theo Chúa Kitô cách mật thiết hơn, để đưa Tin Mừng vào cuộc sống, để đọc các dấu chỉ thời đại với con mắt đức tin và để đáp ứng cách sáng tạo trước các nhu cầu của Giáo Hội. Kinh nghiệm ban đầu này sau đó trưởng thành và phát triển, hấp dẫn các thành viên trong bối cảnh địa lý và văn hóa mới, và nảy lên những cách thức mới để thi hành các đoàn sủng, sáng kiến ​​mới và những biểu hiện của bác ái tông đồ. Giống như những hạt giống sẽ trở thành một cây, mỗi Hội dòng lớn lên và trải rộng những nhánh của nó.

Trong năm này, là thời điểm thích hợp cho mỗi gia đình suy gẫm về nguồn gốc và lịch sử của mình, để cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho Giáo Hội vô số những tặng phẩm để trang bị cho Giáo hội thực thi những công việc tốt lành (x. Lumen Gentium, 12 ).

Kể lại lịch sử là điều cần thiết để chúng ta bảo tồn bản sắc, để tăng cường sự đoàn kết như một gia đình và có cùng một cảm thức chung là chúng ta thuộc về nhau. Việc làm này vượt lên trên một một bài học về khảo cổ hay là việc nhớ về quá khứ, nó mời gọi chúng ta bước theo chân của các thế hệ đi trước, để nắm bắt những lý tưởng cao cả, tầm nhìn và giá trị mà đã đánh động để các vị tổ phụ sáng lập Dòng. Bằng cách này, chúng ta sẽ thấy như thế nào về đặc sủng đã được sống trong những năm qua, sự sáng tạo nảy lên, những khó khăn gặp phải và các phương cách cụ thể của các khó khăn đã được khắc phục. Chúng ta cũng có thể gặp phải trường hợp không thống nhất, kết quả của sự yếu đuối nơi con người và thậm chí do bê trễ một số khía cạnh thiết yếu của các đặc sủng. Tuy nhiên, mọi thứ đã chứng minh tính hướng dẫn và thực hiện như là một tổng thể, đóng vai trò như một lời kêu gọi hoán cải. Để kể về câu chuyện của chúng ta như là lời ca ngợi Thiên Chúa và tạ ơn Ngài vì tất cả những quà tặng của Ngài.

Một cách đặc biệt, chúng ta tạ ơn Chúa vì 50 năm sau Công Đồng Vatican II. Công đồng như làn “hơi thở” của Chúa Thánh Thần thổi vào toàn thể Giáo Hội. Kết quả là đời sống thánh hiến đã thực hiện một cuộc hành trình tốt đẹp trong công cuộc đổi mới. Đó chính là thời điểm của ân sủng, được ghi dấu ấn qua sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

Năm Đời Sống Thánh Hiến này cũng là một dịp để thú nhận một cách khiêm nhường, với sự tự tin lớn lao vào Thiên Chúa là tình yêu (x. 1Ga 4: 8), sự yếu đuối của chúng ta, mà ở đó, chúng ta trải nghiệm về lòng thương xót của Chúa. Tương tự như vậy, năm này là một dịp để làm chứng mạnh mẽ và vui tươi trước thế giới về sự thánh thiện và sức sống hiện diện nơi vô số những người được gọi theo Chúa Giêsu trong đời sống thánh hiến.

2. Năm nay cũng mời gọi chúng ta sống hiện tại với niềm say mê. Tạ ơn về quá khứ đã dẫn đưa chúng ta. Đồng thời chúng ta hãy chăm chú lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần trong Giáo Hội, để thực hiện trọn vẹn hơn nữa những khía cạnh thiết yếu của đời sống thánh hiến nơi chúng ta.

Từ sự khởi đầu của đan viện đến các “cộng đoàn mới” nơi thời đại chúng ta, mọi hình thức của đời sống thánh hiến đã được sinh ra từ sự mời gọi bước theo Chúa Chúa Giêsu như  Tin Mừng trình bày (x Perfectae Caritatis, 2). Đối với những vị sáng lập nam cũng như nữ, thì Tin Mừng là nguyên tắc tuyệt đối, trong khi tất cả các nguyên tắc khác đều xoay quanh và thể hiện sự sống của Tin Mừng một cách trọn vẹn. Đối với những người thánh hiến, lý tưởng là Chúa Kitô; họ tìm được ý nghĩa trong sự kết hợp với Ngài và do đó để có thể nói như thánh Phao-lô tông đồ: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô” (Pl 1:21). Các lời khấn thể hiện cụ thể của tình yêu say mê này.

Vấn đề mà chúng ta phải tự chất vấn mình trong năm này là: làm thế nào để chúng ta mở  ra trước những thách đố của Tin Mừng; Tin Mừng có thật sự là cuốn “cẩm nang” trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta và các quyết định của chúng ta được mời gọi để thực hiện không. Tin Mừng là một đòi hỏi khắt khe: nó đòi hỏi ta phải sống triệt để và chân thành. Tin mừng không chỉ được đọc (mặc dù đọc và học hỏi Kinh Thánh là điều cần thiết), mà còn phải suy gẫm về nó (chúng ta phải làm điều này cách vui tươi mỗi ngày). Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải thực hành điều đó, để những lời của Ngài có hiệu lực trong cuộc sống của chúng ta.

Một lần nữa, chúng ta phải tự hỏi: Có phải Chúa Giêsu thực sự là tình yêu đầu tiên và duy nhất của chúng ta, như những gì chúng ta đã tuyên khấn? Duy chỉ có mình Ngài là tình yêu của chúng ta. Trong Ngài, chúng ta thể hiện chân  lý và lòng thương xót đến tất cả mọi người chúng ta gặp gỡ. Vì lẽ đó, chúng ta sẽ học nơi Chúa Giêsu và thực hành lòng yêu mến. Chúng ta chỉ có thể yêu mến khi chúng ta mang lấy con tim của chính Ngài.

Các đấng sáng lập nam nữ của chúng ta được chia sẻ trong tình thương của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn thấy đám đông như chiên không có người chăn. Giống như Chúa Giêsu, Đấng giàu lòng thương xót, dịu dàng trong lời nói, chữa lành bệnh nhân, đưa bánh cho người đói và dâng hiến mạng sống mình, vì vậy các đấng sáng lập nam nữ của chúng ta đã tìm những phương cách khác nhau để phục vụ tất cả những người mà Chúa Thánh Thần gởi đến cho họ. Họ đã thực hiện bằng lời cầu nguyện, rao giảng Tin Mừng, dạy giáo lý, giáo dục, phục vụ người nghèo và người bệnh … Sự sáng tạo của các công việc bác ái thì vô kể; điều đó có thể nhận thấy nơi vô số những cách thức mới mang lại sự mới mẻ của Tin Mừng cho mọi nền văn hóa vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội.

Năm Đời Sống Thánh Hiến thách đố chúng ta kiểm điểm lòng trung thành của chúng ta cho sứ vụ đã được giao phó cho chúng ta. Công việc truyền giáo của chúng ta, các công trình của chúng ta và sự hiện diện của chúng ta có phù hợp với những gì Thánh Thần khơi lên nơi các vị sáng lập Dòng nam nữ không? Chúng có phù hợp để thực hiện ngày hôm nay, trong xã hội và Giáo Hội, nơi công việc truyền giáo và các công trình tương tự không? Chúng ta có chung niềm say mê với dân Chúa, và chúng ta có gần gũi họ để chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của họ, để thật sự thấu hiểu nhu cầu của họ và giúp đỡ họ không? Thánh Gioan Phao-lô II đã nói: “Sự hào phóng cùng sự hy sinh đã hướng dẫn những Đấng sáng lập dòng, bây giờ phải truyền cảm hứng cho các con, những đứa con thiêng liêng của các ngài, để làm sống lại những đặc sủng đó, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần lay tỉnh họ, để làm cho phong phú và thích nghi, trong khi không đánh mất tính độc đáo của các đặc sủng. Các đặc sủng là để phục vụ Giáo Hội và nỗ lực làm việc để chờ đón Vương quốc của Đức Kitô đến trong vinh quang”.

Nhắc lại nguồn gốc của chúng ta để làm sáng tỏ một khía cạnh khác của đời sống thánh hiến. Các vị sáng lập nam nữ của chúng ta bị thu hút bởi sự hiệp nhất nơi các thánh Tông Đồ với Chúa Kitô và bởi tình đoàn kết được ghi dấu nơi cộng đoàn đầu tiên ở Jerusalem. Trong việc thiết lập cộng đoàn, từng người trong số họ đã tìm cách tái tạo những mô hình sống Tin Mừng, để có một trái tim và một sinh khí, và vui mừng trong sự hiện diện của Chúa (x. Perfectae Caritatis, 15).

Sống hiện tại với niềm say mê có nghĩa là trở thành “chuyên gia trong sự hiệp thông”, nên “nhân chứng và là các kiến ​​trúc sư của ‘kế hoạch cho sự hiệp nhất”, đó là điểm tột đỉnh của lịch sử nhân loại trong ý định của Thiên Chúa”. Trong một xã hội phân cực, nơi các nền văn hóa khác nhau đều gặp khó khăn trong việc sống chung, khó khăn để gặp gỡ, nơi đầy dẫy sự bất bình đẳng, chúng ta được mời gọi để thể hiện mô hình cụ thể của đời sống cộng đoàn, bằng việc nhìn nhận phẩm giá của mỗi người và chia sẻ điểm tốt nơi từng cá nhân mỗi người, làm thành cộng đoàn sống như anh chị em với nhau.

Vì vậy, có những người nam nữ  sống trong sự hiệp thông! Có sự can đảm để thể hiện giữa xung đột và căng thẳng, như là một dấu hiệu đáng tin cậy về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khơi dậy trong tâm hồn con người một niềm say mê để tất cả được nên một (x. Ga 17:21). Sống mầu nhiệm việc gặp gỡ này đòi hỏi “khả năng biết lắng nghe nhau; khả năng tìm kiếm những cách thức và phương tiện cùng nhau”. Sống trong ánh sáng của mối liên hệ yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa (x. 1 Ga 4: 8), một mô hình cho tất cả các mối liên hệ giữa các cá nhân.

3. Nắm lấy tương lai với niềm hy vọng là mục đích thứ ba của năm này. Chúng ta đều biết những khó khăn mà các hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến đang trải qua như: sút giảm ơn gọi và các thành viên lão hóa, đặc biệt là ở các nước phương Tây; các vấn đề kinh tế bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu; các vấn đề của quốc tế và toàn cầu hóa; các mối đe dọa từ chủ nghĩa tương đối và một cảm giác cô độc và không tương thích với xã hội … Nhưng chính trong những bối cảnh bất trắc ấy mà chúng ta chia sẻ với con người đương thời mà chúng ta được mời gọi để thể hiện đức cậy, hoa trái của đức tin trong Thiên Chúa của lịch sử, Đấng đang nói với chúng ta: “Đừng sợ … vì Ta ở với ngươi” (Gr 1: 8).

Niềm hy vọng này không dựa trên số liệu thống kê hay những thành tích, nhưng trên Đấng mà chúng ta đặt niềm tin nơi Ngài (x. 2 Tm 1: 2), Đấng mà nơi Ngài “không có gì là không thể” (Lc 1:37). Đây là niềm hy vọng không thất vọng;  niềm hy vọng cho phép đời sống thánh hiến tiếp nối viết nên lịch sử tuyệt vời của nó trong tương lai. Một tương lai mà chúng ta phải luôn luôn hướng về trong việc ý thức rằng Chúa Thánh Thần thúc đẩy chúng ta để Ngài thực hiện những điều vĩ đại nơi chúng ta.

Đừng khuất phục trước cám dỗ để thấy những điều về số lượng và hiệu quả, và thậm chí tin tưởng vào sức mạnh của riêng mình. Hãy rà soát về chân trời cuộc sống của các con và thời điểm hiện tại, phải thận trọng và cảnh giác. Cùng với Đức Thánh Cha Benedictô XVI, cha mong các con đừng “gia nhập hàng ngũ của các ngôn sứ giả, chuyên công bố sự kết thúc hay sự vô nghĩa của đời sống thánh hiến trong Giáo Hội nơi thời đại chúng ta; đúng hơn, hãy mặc lấy chính Đức Giêsu Kitô và mang lấy áo giáp của sự sáng – như Thánh Phao-lô kêu gọi (Rm 13: 11-14) -. hãy tỉnh táo và thận trọng”. Hãy làm cho chúng ta luôn mới mẻ trong việc tin tưởng vào Chúa.

Đặc biệt cha muốn nói một lời với những người trẻ trong các con. Các con là thời của hiện tại, kể từ khi các con đi vào Hội dòng, dâng hiến tất cả sự tươi trẻ và lòng quảng đại của các con bằng tiếng thưa “vâng”. Đồng thời các con là tương lai, được gọi để đảm nhận những vai trò lãnh đạo trong đời sống, việc đào tạo, phục vụ và truyền giáo nơi các cộng đoàn tu của các con. Năm này sẽ là thời điểm để các con tích cực tham gia vào việc đối thoại với các thế hệ đi trước.Trong sự hiệp thông huynh đệ, các con sẽ được thêm phong phú nhờ những kinh nghiệm và sự khôn ngoan của thế hệ trước, đồng thời các con cũng truyền cảm hứng cho họ, bằng sự tươi trẻ và nhiệt tình của các con, để họ tìm lại lý tưởng ban đầu. Theo cách này, toàn thể cộng đoàn có thể tham gia trong việc tìm kiếm cách thức mới để sống Tin Mừng và đáp ứng cách hiệu quả hơn trước các nhu cầu làm chứng và rao giảng.

Cha cũng rất vui khi biết rằng trong năm nay các con sẽ có cơ hội để gặp gỡ với các bạn thuộc các Hội dòng khác nhau. Những cuộc gặp gỡ như vậy sẽ trở thành một phương tiện của sự hiệp thông, bồi dưỡng, hỗ trợ lẫn nhau và hiệp nhất.

II. NHỮNG MONG ĐỢI TRONG NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

Những mong đợi cụ thể trong năm đời sống thánh hiến?

1. Những gì người xưa nói luôn luôn đúng “Nơi nào có tôn giáo, nơi đó có niềm vui”. Chúng ta được mời gọi để nhận ra và thể hiện cho thấy Thiên Chúa có thể lấp đầy trái tim chúng ta với hạnh phúc ngập tràn; rằng chúng ta không cần tìm hạnh phúc ở nơi nào khác; rằng tình anh em thực sự nơi cộng đoàn làm gia tăng niềm vui của chúng ta; và rằng sự cho đi hoàn toàn trong phục vụ cho Giáo hội, gia đình và người trẻ, người già yếu, người nghèo đem đến cho chúng ta sự hoàn thiện bản thân.

Không ai trong chúng ta phải chịu khắc khổ, chán nản và buồn rầu, vì “một môn đệ buồn rầu là một môn đệ của sự buồn sầu”. Giống như mọi người, chúng ta có những rắc rối, những đêm tăm tối của tâm hồn, sự thất vọng, yếu đuối, trải nghiệm sự xuống dốc khi chúng ta già đi. Trong tất cả, chúng ta nên khám phá “niềm vui trọn hảo”. Vì ở đây chúng ta học nhận diện khuôn mặt Chúa Giêsu, Đấng trở nên như chúng ta mọi điều, và hân hoan khi biết rằng chúng ta là thọ tạo theo hình ảnh Ngài, người đã không từ chối vác thánh giá vì yêu thương chúng ta.

Trong một xã hội đề cao năng suất, sự phù hợp và thành công, bỏ qua người nghèo và sa thải người “thua cuộc”, chúng ta chứng kiến một chân lý từ Kinh thánh “Chính khi tôi yếu lại là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12:10).

Chúng ta có thể áp dụng vào đời sống thánh hiến bởi những huấn từ của Đức Thánh Cha Bênêdictô XI trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng: “Giáo hội lớn mạnh do sự hấp dẫn chứ không phải từ việc cải đạo” (số.14.). Đời thánh hiến sẽ không thịnh vượng do các chương trình ơn gọi xuất sắc, nhưng bởi vì người trẻ bi lôi cuốn vì gặp được ta, bởi vì họ thấy chúng ta là những người sống hạnh phúc. Tương tự như vậy, làm tông đồ hiệu quả trong đời sống thánh hiến không phụ thuộc vào hiệu suất của phương pháp mà là tài hùng biện nơi đời sống các con, đời sống lan tỏa niềm vui và vẻ đẹp của Tin mừng và theo Chúa cách trọn vẹn.

Trong buổi gặp gỡ với các thành viên của các Phong trào nhân ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời năm ngoái, cha đã chia sẻ rằng: “Về cơ bản, sức mạnh của Giáo hội là sống lời Chúa và làm chứng cho đức tin. Giáo hội là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian. Giáo hội được mời gọi làm cho men nước Thiên Chúa hiện diện trong xã hội và Giáo hội, việc này chủ yếu bằng cách làm chứng nhân, làm chứng cho tình huynh đệ, tình đoàn kết và chia sẻ với người khác” (18.05.2013).

2. Cha mong đợi các con “đánh thức thế giới”, vì dấu hiệu phân biệt của đời thánh hiến mang tính ngôn sứ. Như cha nói với các bề trên: “Sống truyền giáo không chỉ dành cho bậc tu trì, đó là nhu cầu của tất cả mọi người. Nhưng các tu sĩ theo Chúa cách đặc biệt, mang tính ngôn sứ”. Đây là sự ưu tiên cần ngay bây giờ: “Để trở thành ngôn sứ làm chứng cho Chúa Giêsu đã sống trên trần gian như thế nào…một tu sĩ không bao giờ từ bỏ tính ngôn sứ” (ngày 29.11.2013).

Ngôn sứ nhận được từ Thiên Chúa khả năng nhận biết thời điểm lúc họ sống và giải thích hiện tượng; họ giống như lính canh túc trực ban đêm và cảm nhận bình minh đang tới (x. Is 21:11-12). Các ngôn sứ biết Chúa và biết ai là anh em  mình. Họ có khả năng nhận biết và vạch mặt tội lỗi và bất công. Bởi vì họ tự do, họ không chịu ơn ai ngoại trừ mình Thiên Chúa và họ không có niềm vui nào khác ngoài Chúa. Các ngôn sứ đứng về phía người nghèo và người bị áp bức vì họ biết Thiên Chúa đứng về phía đó.

Vì thế cha tin tưởng rằng, thay vì sống mơ mộng, các con hãy tìm ra cách sáng tạo “những không gian xen kẽ”, nơi mà sự tiếp cận tin Mừng bằng cách cho đi, tình anh em, chấp nhận những khác biệt và phát triển tình yêu thương nhau. Các tu viện, cộng đoàn, trung tâm tôn giáo, trường học, bệnh viện, gia đình là những nơi mà tình bác ái và sáng tạo từ chính các con nên được hình thành, và cả sự sáng tạo liên lỉ. Phải tiếp tục là men cho một xã hội do Chúa tạo dựng, một “thành phố xây trên núi”, tượng trưng cho sự thật và sức mạnh của Lời Chúa.

Có đôi khi, như ngôn sứ Elia và Giôna, các con cảm thấy muốn trốn chạy, muốn từ bỏ trách nhiệm ngôn sứ vì công việc quá mệt nhọc, quá chán ngắt hoặc không thấy sinh hoa trái. Nhưng các ngôn sứ biết rằng họ không bao giờ một mình. Như Chúa đã làm với ngôn sứ Giêrêmia, vì thế Ngài khích lệ chúng ta: “Đừng sỡ hãi những điều đó, vì Ta ở cùng con để giải thoát con” (Gr 1:8).

3. Nam nữ tu sỹ, như tất cả những người trong bậc tu trì, được mời gọi, như cha đã đề cập trước, “là những chuyên gia trong sự hiệp thông”. Vì thế cha hi vọng rằng “tinh thần hiệp thông”, từng được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhấn mạnh, sẽ trở thành thực tế và các con trở nên  những người đầu tiên đáp lại “thách đố lớn mà chúng ta đang đối mặt” trong thiên niên kỉ mới này: “để làm cho Giáo hội trở thành nhà và trường học hiệp thông”. Cha chắc chắn rằng trong năm nay các con sẽ cố gắng để làm cho ý tưởng tình huynh đệ của những vị sáng lập được lan rộng khắp nơi, như những vòng tròn đồng tâm.

Trước hết phải sống tinh thần hiệp thông và nhất là trong các cộng đoàn. Để kết thúc, cha xin anh chị em nghĩ về một số ý kiến gần đây của cha về những phương thức hành động như là bình luận, chỉ trích, nói xấu, ghen tỵ, đố kỵ, thù địch  không có chỗ trong những ngôi nhà của chúng ta. Đây là một trường hợp, con đường của long nhân hậu mở ra vô tận trước mặt chúng ta, vì nó kéo theo sự chấp nhận và quan tâm đến nhau, thực hành hiệp nhất trong vật chất lẫn tinh thần, sửa lỗi anh em và tôn trọng người yếu thế. Đó là “bí quyết sống chung”, điều sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta thành “một cuộc hành hương thiêng liêng”. Chúng ta cần tự vấn bản thân cách chúng ta liên hệ với những người đến từ nền văn hóa khác, cũng như cộng đoàn của chúng ta dần trở nên cộng đoàn quốc tế. Làm cách nào chúng ta khiến mỗi thành viên có thể tự do phát biểu suy nghĩ của họ, để có thể đón nhận nhau và để trở nên đồng trách nhiệm.

Cha cũng hi vọng có sự lớn mạnh tình hiệp thông giữa các thành viên của những Hội dòng khác nhau. Mong rằng năm nay sẽ là dịp để chúng ta dũng cảm bước ra khỏi sự giam hãm nơi nhà dòng mình và cùng hợp tác, ở phương diện địa phương và toàn cầu, với những công việc liên quan đến đào tạo, truyền giáo và hoạt động xã hội. Điều này sẽ làm cho đời sống chứng nhân hiệu quả hơn. Hiệp thông và sự chạm trán giữa công việc bác ái và ơn gọi có thể mở ra một con đường của hi vọng. Không ai có thể đóng góp xây dựng tương lai một mình, chỉ bằng nỗ lực của bản thân họ, nhưng còn bằng cách nhìn nhận bản thân là một phần của một sự hiệp thông thực sự, điều mà luôn luôn phải đối mặt, đối thoại, lắng nghe chăm chú và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hiệp thông như thế ngăn ngừa chúng ta khỏi căn bệnh say mê chính mình.

Nam nữ thánh hiến cũng được mời gọi trợ giúp những ơn gọi khác trong Giáo hội, bắt đầu từ hàng linh mục tới giáo dân, để “lan rộng tinh thần hiệp thông, bước đầu tiên trong đời sống nội bộ và sau là trong cộng đoàn giáo dân và thậm chí không biên giới”.

4. Cha cũng mong đợi từ anh chị em những gì cha đã xin cùng tất cả mọi thành viên trong Giáo hội: thoát ra khỏi con người mình và đi tới những vùng xa xôi. “Đi khắp mọi nơi”; đây là những lời cuối cùng của Chúa Giêsu nói với các môn đệ và Ngài tiếp tục nói với chúng ta (x.Mc 16:15). Cả thế giới chờ đợi chúng ta: những người đã mất tất cả hi vọng, gia đình gặp khó khăn, rời bỏ con cái, người trẻ không có tương lai, người già cả, bệnh tật và bị bỏ rơi, những ai giàu có về vật chất nhưng thiếu thốn tinh thần, những người tìm kiếm mục đích sống, khao khát Thiên Chúa…

Đừng chỉ nhìn thấy bản thân, đừng dừng lại với những cuộc cãi vã tầm thường, đừng ở lại trên những vấn đề của chính các con. Những điều này sẽ được giải quyết nếu các con ra đi và giúp những người khác giải quyết vấn đề của họ, và công bố Tin Mừng. Các con sẽ tìm thấy cuộc sống bằng cách cho đi, tìm được hi vọng bằng cách cho hi vọng và tìm được tình yêu bằng cách chia sẻ tình yêu.

Cha xin các con làm việc kiên trì trong việc chào đón người tỵ nạn, đến gần những người nghèo và tìm cách dạy họ giáo lý để loan báo Tin Mừng và dạy dỗ những người khác cách cầu nguyện. Do đó cha hi vọng rằng những cộng đoàn với cơ sở vật chất to lớn nên được dùng để đáp ứng nhu cầu truyền giáo, bác ái và công việc tông đồ.

5. Cha hi vọng rằng mỗi hình thức của đời sống thánh hiến sẽ chất vấn đó là điều Thiên Chúa và mọi người ngày nay đang đặt câu hỏi.

Những Hội dòng và cộng đoàn sống đời chiêm niệm có thể gặp gỡ hay ngược lại tham gia trao đổi kinh nghiệm trong đời sống cầu nguyện, trong những cách thức làm sâu hơn mối dây hiệp thông với toàn thể Giáo hội, trong việc giúp đỡ những tín hữu bị bắt bớ, chào đón và giúp đỡ những ai đang tìm kiếm đời sống tinh thần hoặc đang xin được giúp đỡ về mặt đạo đức và vật chất.

Những việc tương tự cũng có thể được áp dụng cho những dòng tu làm việc bác ái, giảng dạy và cho sự tiến bộ văn hóa, để rao truyền Tin Mừng hay để tiến hành công việc mục vụ chuyên biệt. Điều này cũng có thể áp dụng với những Tu Hội Đời với những thành viên thuộc mọi tầng lớp trong xã hội. Sự sáng tạo của Thánh Thần khiến cho cuộc sống và hành động quá phong phú đến nỗi không dễ dàng phân loại hoặc đưa vào một khuôn mẫu có sẵn. Vì thế cha không thể đề cập đến từng vấn đề chi tiết được. Tuy nhiên, trong năm nay không ai cảm thấy bỏ qua thách đố về sự hiện diện của họ trong đời sống Giáo hội và việc đáp ứng liên lỉ những nhu cầu mới  đối với tiếng khóc than của người nghèo.

Chỉ bằng cách quan tâm đến nhu cầu của thế giới và nghe theo sự thúc đẩy của chúa Thánh Thần, năm Đời Sống Thánh Hiến này sẽ thực sự là một “kairos”, năm dạt dào hồng ân của Thiên Chúa, năm của sự biến đổi.

III. NHỮNG CHÂN TRỜI CỦA NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

1. Trong thư này, cha không chỉ muốn nói cho những người sống đời thánh hiến, nhưng cũng nói với các giáo dân, những người chia sẻ với người tu sĩ cùng một lý tưởng, tinh thần và sứ mạng. Một Nhà Dòng có truyền thống lâu đời trong lĩnh vực này, trong khi kinh nghiệm của những cộng đoàn khác thì chỉ mới đây. Thật vậy, xung quanh mỗi gia đình Công giáo, mỗi Tu Hội sống đời tông đồ và Tu Hội Đời, có một gia đình lớn, “một gia đình đoàn sủng”, trong đó bao gồm một số Tu Hội sống cùng đặc sủng như nhau, và đặc biệt là giáo dân, những người cảm thấy mình được kêu gọi, sống ơn gọi giáo dân, chia sẻ thực sự cùng một đặc sủng.

Cha mời gọi các con, những giáo dân, sống năm Đời Sống Thánh Hiến như là một ân sủng mà có thể làm cho các con ý thức hơn về những quà tặng mà các con đã nhận được. Việc cử hành ngày này với toàn bộ “gia đình” nhờ vậy các con có thể phát triển và đáp ứng cho nhau trong xã hội ngày nay nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Trên hết là các nam nữ thánh hiến thuộc các Hội dòng khác nhau đến với nhau, hiện diện cùng nhau là biểu lộ quà tặng của Thiên Chúa. Bằng cách này, các con sẽ biết thể hiện những đặc sủng khác nhau nơi gia đình và các nhóm giáo dân, và đó là cơ hội để làm giàu và hỗ trợ lẫn nhau.

2. Năm Đời Sống Thánh Hiến không chỉ liên quan đến tu sỹ sống đời thánh hiến, nhưng cho toàn thể Giáo Hội. Do đó, cha mời gọi những Kitô hữu phải nhận thức được những quà tặng chính là sự hiện diện của nhiều người nam nữ sống đời thánh hiến xunh quanh chúng ta, những người thừa kế từ các vị thánh vĩ đại, những đấng đã viết nên lịch sử của Kitô giáo. Giáo Hội sẽ ra sao nếu không có những vị thánh như Benedictô và Thánh Basilia, không có thánh Augustin và thánh Bernarđô, không có thanh Phanxicô và Đaminh, Inhaxiô và Thánh nữ Têrêsa Avila, thánh Angelica Merici và thánh Vinhsơn. Danh sách này có thể nhiều hơn nữa, cũng phải kể đến thánh Gioan Bosco và Thánh Têrêsa Calcutta. Như Chân phúc Phaolô VI đã chỉ ra: “Nếu không có dấu chỉ cụ thể này thì nguy cơ là các hoạt động bác ái mà sinh động nơi toàn thể Giáo Hội sẽ nguội dần, rằng nghịch lý cứu độ của Tin Mừng sẽ tàn lụi, và “muối men” đức tin sẽ bị nhạt nhẽo “(Evangelica Testificatio, 3).

Vì vậy, tôi mời mọi cộng đồng Kitô để trải nghiệm năm nay bằng tất cả khoảnh khắc tạ ơn Chúa và khắc ghi lòng biết ơn về những quà tặng mà chúng ta nhận được, tạ ơn đến các đấng thánh đã sáng lập các dòng nam nữ, và nhờ sự trung thành với đặc sủng của họ được thể hiện nơi rất nhiều người nam nữ thánh hiến hôm nay. Cha mời gọi các con đến gần những người sống đời thánh hiến, để hưởng lấy niềm vui với họ, chia sẻ những khó khăn của họ và giúp đỡ họ, trong bất cứ mức độ có thể nào nơi sứ vụ và hoạt động của họ nơi toàn thể Giáo Hội. Hãy để họ nghiệm ra được tình cảm và sự nồng ấm mà toàn dân Kitô giáo cảm thông với họ.

3. Trong thư này, cha không ngần ngại gởi lời đến với những nam nữ sống đời thánh hiến và các thành viên nơi huynh đệ đoàn và cộng đoàn những người thuộc về truyền thống Giáo Hội Công giáo. Tu viện là một phần di sản không thể phân mảnh của Giáo Hội, và vẫn còn rất sống động trong cả các Giáo Hội Chính Thống Giáo và Giáo Hội Công Giáo. Các truyền thống tu viện, và những cảm nghiệm khác từ thời Giáo hội Tây phương hiệp nhất, đã lấy cảm hứng từ những sáng kiến ​​tương tự trong Cộng đoàn Giáo hội truyền thống được cải tổ. Những điều này đã tiếp tục khai sinh những cách diễn tả nơi các cộng đồng huynh đệ và phục vụ.

Thánh Bộ Đời Sống Tận Hiến và Hiệp hội Tông đồ đã đề nghị một số sáng kiến ​​nhằm tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ giữa các thành viên của các hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến và huynh đệ trong Giáo Hội. Cha nhiệt liệt khích lệ các cuộc họp như thế. Đó là một phương tiện để gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng và hợp tác lẫn nhau, vì vậy mà công cuộc đại kết của đời sống thánh hiến có thể chứng minh cách hữu ích cho cuộc hành trình lớn hơn hướng đến sự hiệp nhất nơi toàn thể Giáo Hội.

4. Chúng ta cũng không thể quên rằng hiện tượng của tu viện và các hình thức diễn tả tình huynh đệ nơi đời tu hiện diện trong tất cả các tôn giáo lớn. Có những trường hợp, một số tồn tại lâu đời, cần có sự đối thoại giữa Giáo Hội Công Giáo và một số các truyền thống tôn giáo lớn. Tôi tin tưởng rằng năm Đời Sống Thánh Hiến sẽ là một cơ hội để rà soát tiến độ thực hiện, để làm cho người thánh hiến nhận thức của cuộc đối thoại này, và để xem xét những gì các bước tiếp theo có thể được thực hiện đối với sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác lớn hơn trong nhiều lĩnh vực chung của việc phục vụ cho đời sống con người.

Hành trình cùng nhau luôn mang đến sự phong phú, và có thể mở ra những con đường mới để các mối liên hệ giữa các dân tộc và các nền văn hóa, mà ngày nay hầu như xuất hiện rất khó khăn.

5. Cuối cùng, một cách đặc biệt, lá thứ này tôi muốn, gởi đến Giám mục, những người anh em của tôi. Năm này có thể là một cơ hội để đón nhận các tu hội sống đời thánh hiến trong việc sẵn sàng và hân hoan, như đón nhận thành đô tinh thần góp phần vào sự tốt đẹp của toàn bộ Thân Mình Đức Kitô (x. Lumen Gentium, 43), chứ không phải chỉ là những gia đình đời tu riêng lẻ. “Đời sống thánh hiến chính là quà tặng cho Giáo Hội, nó được sinh ra trong Giáo Hội, nó phát triển trong Giáo Hội, và nó hoàn toàn hướng về Giáo Hội”. Vì lý do này, chính xác đời tu là quà tặng cho Giáo Hội, đó không phải là một thực tế biệt lập hay bên lề, nhưng gắn liền mật thiết trong Giáo hội. Nó là trung tâm của Giáo Hội, một yếu tố quyết định cho sứ mạng của Giáo hội, vì nó thể hiện bản chất sâu xa nhất của ơn gọi Kitô hữu và những mong muốn của Giáo Hội như là Hiền Thê hiệp nhất với Phu Quân của mình. Như vậy, đời tu “thuộc về … hoàn toàn với đời sống và sự thánh thiện” của Giáo Hội.

Trong ánh sáng này, tôi mời gọi anh em, các mục tử của các Giáo Hội địa phương, thể hiện mối quan tâm đặc biệt đối với việc thúc đẩy trong các cộng đoàn sống các đặc sủng khác nhau, dù lâu dài hay mới đây. Tôi tha thiết mời gọi anh em làm điều này bằng cách hỗ trợ và sự khuyến khích, giúp đỡ trong sự nhận thức, và dịu dàng cũng như sự gần gũi yêu thương đến những cảnh huống đau khổ và yếu đuối nơi một  số người nam nữ hiến để họ có thể tìm thấy lại chính mình. Trên tất cả, làm điều này bằng cách hướng dẫn Dân Chúa hiểu rõ giá trị của đời tu, vì vậy mà vẻ đẹp và sự thánh thiện trong đời tu được tỏa sáng nơi Giáo Hội.

Tôi phó thác Năm Đời Sống Thánh Hiến cho Đức Maria, Người Trinh Nữ luôn lắng nghe và chiêm niệm, người môn đệ đầu tiên của Con yêu dấu. Chúng ta hãy nhìn nơi Mẹ, người con chí ái của Cha, được phú ban ân sủng, là mẫu hình tuyệt vời nhất của tất cả những người bước theo Chúa Kitô trong tình yêu Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Sau cùng, cha gởi đến tất cả các con lời biết ơn về quà tặng ân sủng và ánh sáng mà Thiên Chúa đã quảng đại trao ban cho chúng ta và cha ban Phép Lành Tòa Thánh cho tất cả cá con.

Làm tại Vatican, ngày 21 tháng 11 năm 2014, Lễ Đức Mẹ Dâng Mình trong Đền Thờ.

 Hoàng Minh dịch