Nhà Tây Nguyên

Năm 1968, Ðức Cha Paul Seitz, Giám Mục Giáo Phận Kontum, đã xin Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam tới truyền giáo cho người J’rai trong giáo phận của ngài. Ðáp lại lời mời gọi của ngài, cha An-tôn Vương Ðình Tài, người đã có kinh nghiệm truyền giáo cho đồng bào K’ho ở Fyan, lên Tây Nguyên tìm hiểu hiện tình.

Sau chuyến đi thực tế của cha An-tôn Vương Ðình Tài, Tỉnh Dòng đã chính thức đảm nhận công cuộc truyền giáo cho đồng bào J’rai. Nhóm thừa sai ban đầu được thành lập gồm có cha An-tôn Vương Ðình Tài, thầy Phê-rô Hồ Văn Quân, thầy phó tế Giu-se Trần Sĩ Tín và thầy phó tế Phê-rô Nguyễn Ðức Mầu. Hết thảy đều là những người tình nguyện.

Tới Pleiku, các thừa sai được Ðức Cha Paul Seitz lái xe Land Rover chở về hướng nam, tới làng Pleikly, cách Pleiku khoảng 60 km. Sau khi đọc Tin Mừng (Lc 10,1-10), Ðức Cha nói: “Tôi trao cho Dòng Chúa Cứu Thế tất cả đồng bào J’rai. Xin Nhà Dòng gửi đến 72 môn đệ chứ không phải chỉ có 4 anh em đây. Nhớ đấy! Tôi chúc lành cho anh em, cho công cuộc tông đồ của anh em và cho sắc tộc này”. Nói đoạn, ngài quay mặt về 4 hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc giơ tay làm dấu thánh giá ban phúc lành nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, rồi lên xe trở về Pleiku. Lúc đó vào khoảng gần 4 giờ chiều ngày 10-10-1969, ngày khai sinh cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế Tây Nguyên.

Ðêm đầu tiên, bốn thừa sai ngủ tạm trong một ngôi trường nhỏ bỏ hoang đang làm chuồng dê. Những ngày tiếp theo, các vị dựng được một ngôi nhà sàn vừa làm nhà ở vừa làm nhà nguyện. Năm 1972, ngôi nhà này đã trở thành tro bụi vì binh lửa chiến tranh.

Năm 1970, có thêm thầy Mác-cô Trần Văn Ðàn và thầy Phê-rô Ðinh Văn Thảo gia nhập cộng đoàn. Bốn tháng sau, thầy Phê-rô Ðinh Văn Thảo phải giã từ Tây Nguyên, vì lý do sức khỏe.

Ðầu năm 1971, chiến sự bùng nổ dữ dội tại Pleikly. Cha An-tôn Vương Ðình Tài về giúp giáo dân ở Pleiku. Ngày 18-03-1971, giáo điểm bị tấn công, thầy Phê-rô Hồ Văn Quân chạy thoát, cha Phê-rô Nguyễn Ðức Mầu, thầy phó tế Giu-se Trần Sĩ Tín và thầy Mác-cô Trần Văn Ðàn bị bắt đưa vào rừng. Cha Phê-rô Nguyễn Ðức Mầu và thầy phó tế Giu-se Trần Sĩ Tín được trả tự do vào khoảng giữa tháng 07 năm 1971. Còn thầy Mác-cô, vì bị sốt rét nặng trong cảnh giam cầm thiếu thốn và lao khổ, đã vĩnh viễn an nghỉ giữa chốn rừng thiêng nước độc ngày 09-05-1971, làm hạt giống gieo xuống cánh đồng truyền giáo chờ ngày đâm chồi nẩy lộc và trổ sinh hoa trái.

Chiến tranh tưởng chừng như sẽ làm tan nát cộng đoàn. Chính trong thời điểm khó khăn đó, cha Gio-an B. Nguyễn Văn Phán, trong chuyến ghé thăm anh em Dòng Chúa Cứu Thế Tây Nguyên vào tháng 07 năm 1971, đã quyết định gia nhập cộng đoàn. Sự kiện này đã nâng đỡ tinh thần của các anh em rất nhiều. Tuy nhiên, thử thách vẫn tiếp tục : chỉ ít ngày sau, ngài và cha An-tôn Vương Ðình Tài đã được nếm mùi tân khổ. Từ ngày 26-08-1971 đến ngày 02-09-1971, các vị đã bị bắt đưa vào rừng đang khi công tác tại Phú Nhơn.

Năm 1972, thầy phó tế Giu-se Trần Sĩ Tín lãnh sứ vụ linh mục tại vùng truyền giáo. Năm 1973, các thừa sai quyết định phân tán về các địa điểm khác nhau để có thể tiếp tục và mở rộng công cuộc truyền giáo. Cha Phê-rô Nguyễn Ðức Mầu về trung tâm Cheoreo cách Pleikly khoảng 50 km về hướng Ðông Nam; cha An-tôn Vương Ðình Tài về Pleichoet, cách Pleiku gần 10 km, lập nên trung tâm Maranatha; cha Gio-an B. Nguyễn Văn Phán, cha Giu-se Trần Sĩ Tín và thầy Phê-rô Hồ Văn Quân ở lại Pleikly.

Thời gian đầu, từ 1969 đến 1975, ngoài việc học ngôn ngữ, phong tục, tập quán của người J’rai, công việc tông đồ chủ yếu của các thừa sai là hướng dẫn người J’rai canh tác nông nghiệp, giữ gìn vệ sinh y tế, mở các lớp bình dân học vụ dạy chữ J’rai và tiếng Việt, đồng thời đấu tranh bảo vệ công lý và quyền lợi cho đồng bào J’rai. Cũng trong thời gian này, với tầm nhìn xa trông rộng, mặc dù chưa có người J’rai đón nhận Tin Mừng, các vị đã tận dụng các khả năng để dịch Kinh Thánh Tân Ước ra tiếng J’rai. Hơn thế nữa, các vị còn xin Tỉnh Dòng cho xuất bản bản dịch này.

Công cuộc truyền giáo trong gần hai thập niên đầu dường như chẳng thu được bao nhiêu kết quả. Tuy nhiên, chính những hoạt động âm thầm, những hy sinh, cố gắng của các thừa sai, dưới tác động của Chúa, lại là sự chuẩn bị cho một mùa gặt bội thu.

Từ năm 1987, đồng bào J’rai bắt đầu đón nhận Tin Mừng. Số người xin theo Chúa mỗi ngày một gia tăng. Tại trung tâm Pleikly, từ năm 1987 đến 1990, có 528 người rửa tội; từ năm 1991 đến 1993 có 752 người, từ năm 1994 mỗi năm có khoảng hơn 500 người. Tại các trung tâm Cheoreo và Pleichoet, số người lãnh bí tích Rửa Tội cũng gia tăng. Tại các buôn làng, các thừa sai xây dựng những cộng đoàn cơ bản, đăït nền tảng trên Kinh Thánh và việc cầu nguyện theo Kinh Thánh, có khả năng tự quản, có năng động thừa sai, có ý thức phát triển toàn diện. Theo chiều hướng đó, các vị đã luôn quan tâm đào tạo các cộng tác viên người J’rai.

Nhờ có đường hướng đúng đắn và được tổ chức tốt, công cuộc truyền giáo càng ngày càng phát triển. Hiện thời, 3 trung tâm phụ trách khoảng 150 buôn làng, với con số dự tòng lên đến vài nghìn người. Mỗi năm các trung tâm rửa tội cho khoảng hơn 1000 người. Một điều đáng mừng là khi đã đón nhận Tin Mừng, hầu hết các tín hữu người J’rai có một đức tin mạnh mẽ, phong phú, vừa biết loại bỏ những gì nguy hại cho đời sống đức tin, vừa biết bảo vệ và thăng tiến những giá trị văn hóa của mình.

Song song với việc rao giảng lời Chúa và tổ chức các cộng đoàn cơ bản, các thừa sai đang tiếp tục dịch Kinh Thánh Cựu Ước và Sách Phụng Vụ Thánh Lễ ra tiếng J’rai, với sự cộng tác của một số anh chị em giáo dân người J’rai. Các thừa sai cũng tiếp tục công cuộc hội nhập văn hóa, sưu tầm nghiên cứu kho tàng các câu chuyện dân gian, các phong tục tập quán, các lễ tết, hội hè, đình đám. Các vị đã làm được một tập nghi thức an táng Công Giáo có thích nghi và hội nhập với những phong tục cổ truyền. Hơn nữa, ý thức rằng người J’rai là thành phần của Giáo Hội Việt Nam, các thừa sai còn thường xuyên tổ chức cho cộng đoàn giáo dân J’rai giao lưu với giáo dân người Việt cũng như các dân tộc khác. Nhờ vậy, người J’rai vừa được thêm phong phú về văn hóa, vừa được thêm mạnh mẽ về đức tin và tìm thấy chỗ đứng của mình giữa lòng Dân Tộc và Hội Thánh Việt Nam

Bên cạnh việc rao giảng Tin Mừng, các trung tâm cũng chú trọng tới việc phát triển kinh tế, xã hội. Các trung tâm thường giúp đỡ các bệnh nhân phong cùi, hỗ trợ vốn cho người nghèo mua đất đai, vật tư nông nghiệp, làm các ngành nghề phụ. Các trung tâm cũng tổ chức các đợt khám chữa bệnh cho bà con tại các buôn làng, thực hiện các chương trình chống sốt rét, chống suy dinh dưỡng với sự cộng tác của các bác sĩ, y tá. Các trung tâm còn mở các lớp xóa nạn mù chữ, tìm nguồn học bổng giúp học sinh, sinh viên.

Tóm lại, được khai sinh từ trong khói lửa chiến tranh, trải qua biết bao khó khăn, thử thách, mất mát, hy sinh, Cộng Ðoàn Dòng Chúa Cứu Thế Tây Nguyên đã và đang làm nên nhiều điều kỳ diệu, dưới tác động của Chúa Thánh Thần.